Thứ Tư, 11 tháng 5, 2016

2016-04-15 3:07 GMT+02:00 Duyen Sinh <DuyenSinh@live.com>:
Kính chào Quí vị,
Kính chào ông Phạm Trung Kiên,
Những câu hỏi của ông Phạm Trung Kiên hay lắm. Nhờ những câu hỏi này mà rất nhiều tín hữu Công giáo có thể hiểu rõ ràng và trung thực hơn về “ĐỨC TIN CÓ ĐIỀU KIỆN” và “ĐỨC TIN KHÔNG ĐIỀU KIỆN”.
Trước nhất tôi sẽ trình bày trực tiếp về hai đức tin này.
Về đức tin có điều kiện, tôi xin trích dẫn lời dạy của Đức Phật Thích Ca:
ĐỨC TIN CÓ ĐIỀU KIỆN DO ĐỨC PHẬT THÍCH CA GIẢNG DẠY:
Sau mùa an cư, Bụt đi du hành ở nhiều thị trấn trong xứ. Một hôm người đến Kesaputta, thị trấn của bộ tộc Kalama. Giới trẻ tìm tới gặp người rất đông. Họ đã từng nghe tiếng sa môn Gotama nhưng chưa lần nào được gặp.
Một thanh niên chắp tay hỏi Bụt:
Sa môn Gotama, lâu nay có nhiều vị đạo sĩ bà la môn đến viếng xứ Kesaputta này, để giảng dạy đạo lý. Vị nào cũng nói chỉ có đạo lý của mình là hay và thường hay chê bay những đạo lý khác. Chúng con thật bối rối, không biết đường nào mà đi, và rốt cuộc chúng con sinh ra nghi ngờ tất cả. Sa môn, chúng con nghe nói người là bậc giác ngộ liêm trực, xin người cho chúng con biết là nên tin theo ai và không nên tin theo ai? Ai là người nói đúng và ai là người đang truyền bá tà thuyết?
Bụt nói:
-Trong trường hợp này, nếu các bạn có sanh tâm nghi ngờ, đó cũng là việc tự nhiên, dễ hiểu.
Này các bạn, các bạn đừng vội tin vào một điều gì dù điều đó là điều mà người ta thường nói tới luôn, dù điều đó có trong kinh điển, dù điều đó là do một bậc thầy mà thiên hạ tôn sùng nói ra. Các bạn chỉ nên chấp nhận và tin vào những điều mà các bạn thấy hợp với lý trí của các bạn, những điều được các bậc hiền nhân đồng ý, những điều mà nếu đem ra thực hành thì đưa tới những kết quả tốt đẹp cho đời sống. Còn những điều không hợp với lý trí, những điều bị các bậc hiền nhân chê trách, những điều mà nếu đem ra thực hành thì đưa tới khổ đau và đổ vỡ, những điều đó các bạn nên bác bỏ, đừng chấp nhận.
Người thanh niên Kalama nói:
- Xin sa môn Gotama chỉ bày thêm cho chúng con.
Bụt nói:
- Này các bạn, ví dụ có một người để tham vọng, giận hờn và si mê chế ngự tâm mình, thì những tham vọng giận hờn và si mê ấy sẽ làm cho người kia vui hay là khổ?
- Thưa sa môn, những tham vọng, giận hờn và si mê ấy sẽ làm cho người kia phạm vào tội ác và sẽ đem lại khổ đau lâu dài cho người ấy.
- Vậy thì sống theo tham vọng, giận hờn và si mê có phải là lối sống mà các bậc hiền nhân chấp nhận và khuyến khích không?
- Thưa không.
- Giá dụ có một người kia sống theo hạnh Từ, Bi, Hỷ, và Xả, biết đem lại hạnh phúc cho kẻ khác, biết làm giảm bớt nổi khổ của người đời, biết vui theo niềm vui của kẻ khác, biết đối xử với kẻ khác một cách không kỳ thị không oán trách, thì những hạnh Từ, Bi, Hỷ và Xả ấy sẽ làm cho người ấy vui hay khổ?
- Những hạnh ấy không những sẽ làm cho người ấy có hạnh phúc mà còn làm cho mọi người sống chung quanh có hạnh phúc nữa.
- Vậy thì sống theo hạnh Từ, Bi, Hỷ, và Xả có phải là lối sống của các bậc hiền nhân chấp nhận và khuyến khích không?
- Thưa sa môn, có.
- Hay lắm, các bạn. Các bạn hiện có đầy đủ tư cách để phán xét những gì nên tin và nên chấp nhận, và những gì không nên tin và không nên chấp nhận. Tôi xin nhắc lại: chỉ nên tin và chấp nhận những gì hợp với trí xét đoán của mình, những gì được các bậc hiền nhân chấp nhận và khuyến khích, những gì mà nếu đem ra thực hành sẽ đem lại niềm vui và hạnh phúc cho mình và cho kẻ khác. Những gì trái chống lại thì nên từ chối, đừng chấp nhận.
Những người trẻ trong bộ tộc Kalama rất lấy làm hoan hỷ sau khi nghe Bụt nói. Họ nhận thấy giáo lý của Bụt rất phù hợp với lý trí của họ, không đòi hỏi một “đức tin không điều kiện”. Họ thấy nơi giáo lý ấy một niềm tôn trọng tự do tư tưởng rất lớn. Nhiều người xin được quy y làm học trò của Bụt.
Thích Nhất Hạnh, Đường Xưa Mây Trắng, trang 418-420.
(Kalamasutta, Anguttara-nikaya, III, 65)
Tôi xin nhắc lại cho ông bạn một lần nữa là trong kinh Kalama, Đức Thích Ca rất rõ về “đức tin có điều kiện”. Điều kiện đó là:
Này các bạn, các bạn đừng vội tin vào một điều gì dù điều đó là điều mà người ta thường nói tới luôn, dù điều đó có trong kinh điển, dù điều đó là do một bậc thầy mà thiên hạ tôn sùng nói ra. Các bạn chỉ nên chấp nhận và tin vào những điều mà các bạn thấy hợp với lý trí của các bạn, những điều được các bậc hiền nhân đồng ý, những điều mà nếu đem ra thực hành thì đưa tới những kết quả tốt đẹp cho đời sống. Còn những điều không hợp với lý trí, những điều bị các bậc hiền nhân chê trách, những điều mà nếu đem ra thực hành thì đưa tới khổ đau và đổ vỡ, những điều đó các bạn nên bác bỏ, đừng chấp nhận.
ĐỨC TIN KHÔNG ĐIỀU KIỆN CỦA THÁNH IGNATIUS OF LOYOLA:
Về đức tin không điều kiện của Công giáo, tôi xin liệt kê một quy luật của Thánh Ignatius of Loyola (vị thánh sáng lập họ đạo Dòng Tên). Đoạn văn này được viết trong sách “The Secret History of the Jesuits” của tác giả Edmond Paris, ISBN 978-093795810-0, trang 37.
Sách viết (bằng tiếng Anh):
We must see black as white, if the Church says so.
Dịch ra tiếng Việt:
Chúng ta phải thấy màu đen là màu trắng, nếu giáo hội nói đó là màu trắng.
Chúng tôi coi quy luật trên đây của Thánh Ignatius of Loyola là một ví dụ tiêu biểu cho “ĐỨC TIN KHÔNG ĐIỀU KIỆN” của Công giáo.
Tại sao gọi là đức tin không điều kiện? Là vì các tín hữu Công giáo bị “bắt buộc” phải tin!... Mà họ không có quyền không tin…
Nói cho đúng ra, đã từ lâu, các tín hữu Công giáo bị tước đoạt quyền tự do tư tưởng căn bản của con người. Người Công giáo chỉ được phép tin một cách “mù quáng”, mà gần đây tôi thường nghe người ta nói tới qua câu phát biểu “không thấy mà tin”.
Vì “không thấy mà tin” cho nên các tín hữu Công giáo chỉ tin mà không được phép đưa ra bất cứ một điều kiện nào cả. Vì không được phép đưa ra bất cứ một điều kiện nào cả, cho nên chúng tôi gọi đức tin của các tín hữu Công giáo là “đức tin không điều kiện”.
TẠI SAO ĐỨC TIN KHÔNG ĐIỀU KIỆN LÀ MỘT TAI HỌA?
Để hiểu rõ hơn tại sao “Đức Tin Không Điều Kiện” là một tai họa, một đoạn trong bài của tôi có tên là “Chân Lý và Đức Tin”. Quý vị chưa đọc bài này xin bấm vào đường dẫn:
Chân lý lúc nào cũng vẫn là chân lý, cho dù chân lý ấy không được ai tin.
Vụ án Galileo Galilei là một thí dụ chính xác.
Ông Galileo Galilei nói bề mặt quả địa cầu hình bầu dục, không phải là một mặt phẳng hình vuông. Phát biểu này của ông Galileo Galilei là một chân lý. Ông Galileo Galilei cũng nói trái đất quay quanh mặt trời, không phải mặt trời quay quanh trái đất. Phát biểu này của ông Galileo Galilei cũng là một chân lý. Mặc dù ông Galileo Galilei đã nói lên chân lý, nhưng vào thời buổi đó, chân lý do ông Galileo Galilei nói ra không được ai tin.
Trong khi đó thì Vatican dạy bề mặt quả địa cầu là một mặt phẳng hình vuông. Vatican cũng nói mặt trời quay quanh trái đất từ Đông sang Tây. Lời dạy đó là lời dạy theo “đức tin không điều kiện”, tức là chỉ tin, mà không có quyền không tin. Cũng vì đức tin không điều kiện mà ông Galileo Galilei bị quản thúc tại gia cho tới chết. Và cũng vì đức tin không điều kiện, mặc dù sai lầm, nhưng có hàng tỉ người trên thế giới tin theo!
Mặc dù ông Galileo Galilei đã hết lời biện hộ cho chân lý “mặt trời đứng yên, và trái đất xoay quanh mặt trời” nhưng ông vẫn không thể nào lay chuyển được Vatican. Những sai lầm của Vatican là do sự cố chấp mà Đức Phật Thích Ca gọi là “bị kẹt vào một chủ thuyết” mà tôi đã trình bày sự cố chấp đó trong bài:
Điều này chắc chắn chứng tỏ “Đức Tin không điều kiện là một tai họa cho nhân loại”. Đức tin không điều kiện sẽ không có ích lợi gì cho văn minh nhân loại, mà nó còn biến con người càng lúc càng trở nên ngu ngốc, u mê, thoái hóa… để trở thành con khỉ con vượn.
Đức tin không điều kiện quả thực là kẻ thù của nhân loại vậy.
Để trả lời thêm vài chi tiết như:
[Thưa ông Duyên Sinh, đã gọi là "ĐỨC TIN" mà còn đòi hỏi phải có điều kiện, tức là có thấy thì mới tin... thì đâu còn là Đức tin nữa?]
[Tôi tin chắc rằng...Ông chưa bao giờ nhìn thấy Đức Phật Thích Ca, mà chỉ nhìn thấy tượng ảnh, đọc qua sách vở...Nhưng Ông vẫn tin có Đức Phật bởi vì do "Niềm tin hay Đức tin", đúng không?]
Thưa ông Phạm Trung Kiên:
Khi nói về “đức tin có điều kiện” và “đức tin không điều kiện” là tôi đối thoại với ông về vấn đề “nên tin một cách mù quáng” (không điều kiện), hay “nên tin một cách có lý trí” (có điều kiện).
Tôi không bàn với với ông bạn về vấn đề “thấy thì mới tin”. Thấy thì mới tin là một vấn đề khác. Có lẽ ông bạn đang “lạc đề” hoặc ông bạn muốn lèo lái tôi sang một vấn đề khác!?...
Tôi xin nhắc ông bạn một lần nữa: Đạo Phật không hoàn toàn bác bỏ đức tin. Đạo Phật chỉ tin khi nào niềm tin ấy phù hợp những điều kiện như Đức Phật đã nói trong kinh Kalama: “Này các bạn, các bạn đừng vội tin vào một điều gì dù điều đó là điều mà người ta thường nói tới luôn, dù điều đó có trong kinh điển, dù điều đó là do một bậc thầy mà thiên hạ tôn sùng nói ra. Các bạn chỉ nên chấp nhận và tin vào những điều mà các bạn thấy hợp với lý trí của các bạn, những điều được các bậc hiền nhân đồng ý, những điều mà nếu đem ra thực hành thì đưa tới những kết quả tốt đẹp cho đời sống. Còn những điều không hợp với lý trí, những điều bị các bậc hiền nhân chê trách, những điều mà nếu đem ra thực hành thì đưa tới khổ đau và đổ vỡ, những điều đó các bạn nên bác bỏ, đừng chấp nhận.
Những gì tôi viết trong thư này là căn bản, là nền tảng cho đức tin có điều kiện và không điều kiện. Tôi sẽ không tiếp tục bàn thêm cho đến khi nào ông bạn có khả năng hiểu và có khả năng chấp nhận được nền tảng của đức tin có điều kiện là cần thiết!
Xin cám ơn và xin Chúa ban phước cho ông bạn. Xin mời các bạn khác đóng góp thêm ý kiến!...

DuyenSinh ( Nguồn: Sáchhiem.net)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét