Quý vị thân mến,
3. “Những âm hồn xe lửa”- Kể lại những câu chuyện rùng rợn mà tôi đã
chứng kiến hoặc nghe kể lại.
4.
“Hồn ma con gái Bưởi”- Kể
lại câu chuyện ma có thật về một vụ án mạng: Một tên dâm tặc hiếp dâm một cô
gái, rồi dìm xác xuống cống.
5.
“ Cây Ráy thành tinh”- Kể
về một chuyện có thật về một vùng đất đã từng được xem là vùng rừng thiêng nước
độc - nơi tôi đã từng công tác, có nhiều kỷ niệm vui - buồn. Câu chuyện tôi
được nghe các cụ lớn tuổi kể lại.
6.
“Hồn ma em Phương Yến”- Câu
chuyện kể về hồn ma người con gái tôi chưa từng quen biết tên Phương Yến, sinh
năm Bính Thìn (1976), đã giúp đỡ tôi tránh được cái chết lẽ ra đã xảy đến cho
tôi vào năm 2004.
7.
“ Con Chó ma”- Kể về
một chuyện ma có thật mà tôi đã trải nghiệm.
Thuở ấy tôi viết để ở nhà và anh em bạn bè đọc
chơi, chứ không có ý đăng tải ở đâu cả. Câu chuyện vừa đươc viết ở dạng bản
thảo chưa chỉnh lý, thì thằng con trai lén đăng lên các trang Web như Thế giới
vô hình và một số trang khác và đã được số người xem rất lớn, có người xem rồi,
copy lại đem đăng ỏ những trang khác. Lại có người đem diễn đọc thành Audio rồi
đăng lên trang cá nhân hoặc You tube cũng được số người nghe rất lớn, càng lúc
càng thấy trên You tube truyện được nhân bản rất nhiều với nhiều người diễn đọc
khác nhau.
Mục đích của tôi viết là viết với mục đích làm
vui, chứ không vì mục đích lợi nhuận gì khác. Cho nên câu chuyện còn đang ở
dạng file bản thảo chưa kịp chỉnh lý, còn nhiều sai sót cần được sửa chữa mà
được sự đón nhận như thế, trong lòng cũng cảm thấy vui vui, thấy được động viên
khích lệ cho sự ra đời những câu chuyện tiếp theo.
Nhân dịp rảnh rỗi, đem chỉnh lý lại đăng lên
trang nhà, để các bạn nào thích thì xem: Những “ Lời quê góp nhặt dong dài /
Mua vui cũng được một vài trống canh.”.
Thân ái!
Đức Minh – Trần Thanh Hiệp (Rừng Xưa Chưa
Khép)
---------------------------------------------------------------------
TRUYỆN MA
Tác giả:TRẦN THANH HOÀI
Câu chuyện HỒN MA MẸ - CON
BÀ MỌI.
Phần một
(Nhà Bà Ba)
Hồi mới giải phóng, xóm tôi còn nghèo nàn lắm. Cả xóm chừng vài chục nóc nhà; đa phần là nhà tranh lụp xụp, xung quanh nhà bà con hay trồng cây keo, cây dẹp, cây nổ làm hàng rào. Chỉ vài nhà có điện, tối đến cả xóm tối thui, ít ai muốn ra đường ngoại trừ có công việc. Mỗi khi ra đường đi giữa hai hàng cây keo, cây dẹp um tùm phủ ra hai bên đường, gặp lúc có cơn gió nhẹ thoảng qua, các nhánh cây rung động, dưới ánh sao trời, tưởng tượng như có những hình thù kỳ dị ma quái đang ẩn hiện trước mặt, làm cho người yếu bóng vía phải rợn cả tóc gáy!
Nhà tôi ở cuối con hẻm cụt. Dọc con hẻm, mỗi bên chừng chục nóc nhà. Cách nhà tôi hai nhà là nhà bà Ba. Bà Ba già rồi, bà sống với hai đứa cháu ngoại còn nhỏ là con Tuất ( sinh năm Canh Tuất-70) và con Tân ( sinh năm Tân Hợi-71). Ba bà cháu sống heo hút với nhau trong cảnh khổ cực, thiếu thốn. Phong cảnh nhà bà thấy âm u, quạnh quẽ lắm, buổi tối ai có việc đi ngang qua chắc cũng không tránh khỏi cái cảm giác rờn rợn, lành lạnh!
Bà
Ba khó tính, nên hàng xóm ít người quan hệ với bà. Ban ngày bà đi mót lúa, hay
mò cua bắt ốc, tối về ba bà cháu hủ hỷ với nhau dưới ánh đèn dầu một chút rồi
đi ngủ. Bà Ba ít giao thiệp với hàng xóm, những lúc rãnh rỗi bà cũng chẳng tới
nhà ai chơi cả, có chăng chỉ tới nhà tôi chơi một chập lát mà thôi. Sở dĩ bà
thân với nhà tôi hơn là vì ba tôi hay giúp bà làm cái nọ, cái kia... Đáp lại
cũng chỉ có anh em tôi mới dám đến nhà bà chơi với tụi con Tân, con Tuất; còn đám
con nít hàng xóm thì chẳng có đứa nào dám bén mãn đến nhà bà! Vì như thế, nhà
bà vốn dĩ quạnh quẽ, lại càng thêm quạnh quẽ!
Rồi
bà con trong xóm xì xầm bàn tán là nhà bà Ba-ngoại con Tuất có ma: Cứ khoảng 12
giờ khuya trở đi thường nghe văng vẳng tiếng đàn bà khóc than ai oán trên đầu
hè, tiếng khóc nghe ma quái, dễ sợ lắm, dù có người nào bạo gan cách mấy cũng không
tránh khỏi cái cảm giác lành lạnh sống lưng! Không chỉ nghe tiếng khóc than, mà
có lúc còn thấy có cả cục lửa từ ngoài hẻm bay lờ lờ tới cửa ngỏ, rồi bay vào
cửa cái đảo vòng vòng, đoạn bay xuống cửa nhà dưới đảo qua đảo lại một chập,
lại vòng trở ngược lên đầu hè, rồi biến mất, thay vào đó là một bóng người đàn
bà tóc xoã dài tới mông, tay dắt đứa nhỏ đứng nhìn ánh trăng, hay có lúc ngồi
cúi gục khóc nỉ non.
Tuy
bên ngoài người ta đồn đãi như vậy, song không biết bà Ba có hay biết gì không
vì chẳng ai dám kể chuyện ấy cho bà, sợ bà chửi, bảo là trù ẻo nhà bà.
Từ khi có tin đồn ấy, tối đến ít có ai dám ra đường, cơm nước xong nhà nào nhà nấy cửa đóng then cài kín mít, làm cho khu xóm nghèo vắng vẻ lại càng thêm vắng vẻ. Người ta bàn tán: Cục lửa, bóng người đàn bà và đứa nhỏ chính là oan hồn hai mẹ con bà Mọi - con bà Ba - đã chết đau đớn cách đó chừng mấy năm; vì đã chết tức tưởi quá, vong hồn không siêu thoát được, lâu lâu nhớ nhà về thăm, thương hai đứa con côi cút bơ vơ khổ sở, thấy chạnh lòng mà khóc than buồn thương cho số phận…
Người
ta đem chuyện bàn tán với ba – má tôi, tôi ngồi nghe mà chẳng biết thực hư thế
nào, chỉ biết trong mỗi lần như thế, tôi lại nhớ tới thằng Tèo ( anh con Tuất,
con Tân): tội nghiệp, nó chết thảm quá, ruột lòi ra cả đùm! Nhìn ra hàng dậu trước
nhà, mấy cây mồng tơi đang bỏ đọt là kỷ niệm của nó còn lưu lại. Dậu mồng tơi,
không nhớ đã qua bao độ úa tàn, bao nhiêu lần rụng hạt,để rồi chờ mỗi mùa xuân
tới lại mọc lên xanh mơn mởn, phủ kín một góc rào, mà lòng tôi thấy buồn vời
vợi!
*
* *
Ngày
tháng dần trôi, một ngày kia bà Ba sức yếu, mắt kém không còn đi mót được nữa, con
Tuất lại tiếp tục công việc của bà. Nó còn nhỏ không tranh nổi với người lớn
nên mót chẳng được bao nhiêu.Tối về thấy được ít lúa, bà đánh đập chửi bới nó
thật tội nghiệp! Nhiều lúc bà chửi luôn vong hồn đứa con gái bạc phước của bà: sao
ngu dại ưng trúng thằng chồng sát nhân để rồi bị nó giết chết, bỏ lại hai đứa
con cho bà. Nghe bà chửi thế, nghĩ cũng tội nghiệp cho vong hồn bà Mọi và tội
cho hai đứa con côi cút mất mẹ phải sống bữa đói bữa no. Nói cho cùng, thì cũng
chẳng qua số phần của bà nó ngắn và số hai đứa nhỏ phải chịu khổ cực đói khát
mà thôi, chớ bà Mọi nào có muốn như thế! Nhiều lúc như vậy, nghĩ lại thấy thấm
thía câu hát mẹ ru: "Ầu ơi..., mồ côi cha ăn cơm với cá, mồ côi mẹ lót lá
mà nằm”! Nhiêù lúc tôi nghĩ chắc vong hồn bà Mọi cũng đau khổ lắm, cho nên bà
mới không siêu thoát được bởi không nỡ rời xa hai đứa con côi cút còn thơ dại;
để rồi đêm đêm bà lại hiện hồn về thăm con, thấy con khổ mà bất lực không thể
giúp được gì nên mới tủi thân mà ngồi khóc than cho số phận!
Mà
nghĩ, con Tuất không mót được lúa cũng phải! Vì hồi mới giải phóng cho đến năm
tám mươi mấy, thực phẩm khan hiếm lắm, mười nhà thì tám chín nhà ăn độn thêm
khoai lang, khoai mì. Tiếng là nông dân có ruộng nhưng có nhà vẫn đói như
thường vì sản phẩm làm lên chỉ đủ đong cho HTX, thậm chí còn thiếu nợ nữa. Tội
nghiệp, có hộ làm mà không đủ đong cho HTX, đến lúc gặt, HTX cho lực lượng du
kích đến canh giữ, gặt lên được bao nhiêu họ chở về kho hết (gọi là bao thu). Nhiều
cảnh cay đắng thường xảy ra: Những hộ bị bao thu chờ lúc du kích không để ý,
liền vác một bao, hay xúc một mủng bưng chạy. Không bị phát hiện thì thôi; còn
lỡ bị phát hiện là... đùng, đùng, đùng...thì phải lật đật bỏ "hàng"
lại mà chạy trối chết, chạy để mà...thoát thân, chạy để...rồi còn để được...về
nhà nhìn vợ con... nhịn đói! Thật là đau xót, bao công sức mồ hôi nước mắt của
mình đổ xuống làm ra hạt thóc để rồi… mình lại trở thành tên trộm ăn cắp lại
tài sản của mình!
Người
nông dân thực thụ còn sống trong cảnh thiếu đói như thế, thì nhà con Tân, con
Tuất làm sao tránh khỏi cảnh bà cháu phải nhịn đói thường xuyên?! Bà cháu nó, có
hôm trong nhà chỉ còn lưng chén gạo không đủ nấu cơm chỉ nấu đủ vài chén cháo
húp đỡ. Có bữa được ăn cơm nhưng một phần cơm tới hai phần khoai mì, hoặc khoai
lang ăn với đọt dẹp chấm nước muối ớt. Tới dịp cắt lúa, má tôi gọi con Tuất
theo để sai vặt, rồi chiều về cho nó mủng lúa, hoặc thỉnh thoảng đem đến nhà vài
ký gạo; cùng là bạn nghèo với nhau, của ít lòng nhiều giúp nhau lúc ngặt, chớ
không thể giúp nổi cái nghèo đói triền miên!
Rồi
cũng vì ăn uống thất thường, bữa đói, bữa no còn lại phải vất vả cả ngày ngoài
đồng để nhặt từng bông lúa rụng, một ngày kia con Tuất ngã bệnh toàn thân phù
thủng vì bị suy dinh dưỡng và cảm nhiễm mưa nắng lâu ngày. Bệnh mà không có
tiền chữa nên con Tuất đã...phải bỏ lại bà ngoại và đứa em!
Con Tuất chết độ chừng một tháng, bà Ba bán nhà cho người hàng xóm có nhà đối lưng với nhà bà, rồi về ở với người con gái đầu (bà này cũng nghèo lắm). Con Tân được bà hàng xóm tốt bụng ở xóm trên đem về nuôi để sai chuyện lặt vặt.(Bà này không chồng con nên bà thương nó như con. Hiện giờ nó sống ở Sài Gòn.) Căn nhà bà Ba, người ta mua để chứa đồ chớ không để ở, cho nên từ khi bà dọn đi thì căn nhà vốn đã u ám thì lại càng lạnh lẽo, u ám hơn, đến nỗi ai đi ngang qua đều có cảm giác rờn rợn đằng sau gáy!
* * *
Con Tuất chết độ chừng một tháng, bà Ba bán nhà cho người hàng xóm có nhà đối lưng với nhà bà, rồi về ở với người con gái đầu (bà này cũng nghèo lắm). Con Tân được bà hàng xóm tốt bụng ở xóm trên đem về nuôi để sai chuyện lặt vặt.(Bà này không chồng con nên bà thương nó như con. Hiện giờ nó sống ở Sài Gòn.) Căn nhà bà Ba, người ta mua để chứa đồ chớ không để ở, cho nên từ khi bà dọn đi thì căn nhà vốn đã u ám thì lại càng lạnh lẽo, u ám hơn, đến nỗi ai đi ngang qua đều có cảm giác rờn rợn đằng sau gáy!
* * *
( Tôi thấy ma)
Tưởng
những chuyện bàn tán về hồn ma bà Mọi đã chìm vào quên lãng cũng như câu chuyện
về vụ án mạng thương tâm của bà đã một thời xôn xao dư luận. Nhưng thật ra, nó
chỉ lặng được một thời gian rồi trở lại còn xôn xao hơn trước nữa. Nhất là sau
cái ngày bà Ba bán nhà được ít hôm, đi tới đâu cũng nghe người ta tụ tập bàn
tán: nghe bà Mọi khóc ở đầu hè; cục lửa bay vòng vòng vòng…, đủ thứ đủ kiểu
hết!
Người
ta đồn những chuyện như thế, chẳng biết hư thực được bao nhiêu; nhưng đối với
tôi những chuyện ấy không hoàn toàn là bịa đặt. Bởi chính tôi trong thời gian
đó cũng đã một lần… hồn vía lên mây lên mưa, mà đến giờ nhắc lại cũng còn…thấy
run!
Tôi
còn nhớ, hồi còn bao cấp, người ta thèm khát văn nghệ lắm. Hễ mà nghe có đoàn
cải lương nào về hát, thì thanh niên, thanh nữ, bà già, con nít hầu như ai cũng
thấy trong lòng vui như mở hội, cứ trông mau tới tối để đi coi.Hôm nọ có đoàn
Cải Lương Sông Bé 3 đến lưu diễn, hát tuồng Bạch Viên Tôn Cát, bà con ở xóm tôi
đi xem thật đông.
Hôm nọ, vãn hát, mọi người ra về, vừa đi vừa
bàn tán râm ran, rất vui, cho đến khi ai về nhà nấy, chỉ còn lại mình tôi thui
thủi trong con hẻm nhỏ. Đêm đó độ mùng chín, mùng mười, ánh trăng thượng tuần
chênh chếch về Tây, ánh sáng mờ ảo soi qua tán cây ổi già của nhà bà Nhơn đối
diện nhà bà Ba tạo thành những khoảng sáng tối có hình thù kỳ dị ma quái. Lúc còn
cách cửa ngõ nhà bà Ba chừng mười thước, tôi thấy ở đó thấp thoáng một cái bóng
mờ trăng trắng. Nghĩ là ánh trăng xuyên qua tán ổi chiếu xuống chỗ trụ cửa ngỏ,
nhưng khi tới chừng vài bước nữa, thì chợt nhận ra không phải là ánh trăng, mà
là...là… một người đàn bà mặc áo trắng, tay dắt đứa nhỏ đang đứng quay mặt vào
nhà bà Ba. Trời ơi, tự nhiên trong tôi bỗng dưng một luồng hơi lạnh chạy dọc
sống lưng lên tận óc làm tóc tai dựng đứng, và bất giác rùng mình mấy cái! Tôi
điếng hồn đứng yên bất động chẳng dám nhúc nhích chút nào. Đứng lặng một hồi,
thấy bà ấy vẫn đứng yên quay mặt vào cửa ngỏ.Tôi nghĩ đến nước này là đường
cùng rồi, phải tìm cách thoát thân thôi. Nhưng mà lúc này, chạy tới cũng khó mà
lui cũng chẳng xong, thật là tiến thoái lưỡng nan! Bởi chạy tới thì sợ bà ấy
nhảy ra chận đường, còn chạy lui thì… không lẽ ngủ ở ngoài đường! Cho nên chẳng
biết phải làm sao đây?! Thôi đành nhắm mắt đánh liều, phải chạy về nhà thôi! Tôi
định trong ruột, nếu chạy vụt qua mà ngộ nhỡ bà ấy có nhảy ra chặn đường, tôi
sẽ kêu to “ Ba ơi” thì thể nào ba tôi cũng chạy ra cứu.Nghĩ thế tôi thấy hơi
yên tâm một chút, rồi bắt đầu co giò chạy.Vừa chạy, tôi vừa cảnh giác nhìn xem
bà ấy có nhảy ra chận hay rượt theo không. Cũng may, bà ấy không nhảy ra chận,
mà…mà bà…bà… chỉ quay lại nhìn tôi khi tôi chạy ngang qua thôi! Ôi, trời ơi!
Một người - mặt mày và toàn thân bà ấy đầy máu me; còn thằng nhỏ thì…thì… tôi
không kịp thấy mặt, chỉ thấy hình như nó mặc chiếc quần đùi và chiếc áo màu đỏ,
mà cũng có thể là màu trắng bị dính máu không phủ hết bụng, để lộ ra một đùm đỏ
lòm! Ôi, lúc ấy có tiếng “ Ba ơi” mà tôi cũng quên, chân tôi muốn xụm xuống, toàn
thân bủn rủn như thể không còn một chút sức lực gì nữa, tưởng phải nằm tại chỗ,
chớ không thể nào bước nổi nữa!
Nhưng
chắc nhờ có ông bà thương đã giúp sức thêm cho tôi nên mới đủ sức mà chạy được
về tới nhà! Vào tới cửa, tôi tung cửa một cái rầm, vọt thẳng lên giường, trùm
mền kín mít mà run cầm cập! Ba má tôi, không biết xảy ra chuyện gì, mất hồn, lật
đật chạy lại hỏi han đủ điều mà tôi chẳng nói được một lời!
Ôi, đêm ấy là đêm kinh hoàng đầu tiên trong
đời tôi, hình ảnh người đàn bà máu me ấy vẫn còn rõ rệt trong tôi cho đến tận
hôm nay!
Kể
tới đây, quý vị có thể cho rằng vì tôi ám ảnh chuyện người ta đang đồn về hồn
ma mẹ con bà Mọi nên trông gà hoá cuốc. Sao cũng được! Nhưng đối với tôi cho
tới bây giờ tôi vẫn tin rằng tôi đã thấy rõ ràng như vậy. Còn chuyện tôi sợ đến
bủn rủn tay chân, tôi nghĩ rằng dù ai có dạn cách mấy cũng không tránh khỏi nỗi
sợ hãi ấy. Vì bất ngờ bà ta quay lại với thân mình đầy máu me mà lúc chưa chạy
tôi đâu có thấy, cho nên chưa có sự chuẩn bị tâm lý đối phó với chuyện máu me
này, vả lại lúc thấy máu me là lúc đang rất gần bà ấy nữa! Thấy một người đứng
không đã mất hồn rồi; đằng này còn thêm ruột gan, máu me nữa chớ, hỏi sao mà
không điếng hồn cho được; ban ngày mà thấy cảnh đầy máu me ruột gan như thế đã
điếng hồn, chớ còn nói gì tới ban đêm?!
Theo tôi, người đàn bà và đứa nhỏ đó chính là hồn ma mẹ con bà Mọi. Có thể vì còn quyến luyến với ngôi nhà cũ và thương nhớ hai đứa con nên trở về thăm; song thực tế trớ trêu, ngôi nhà đã đổi chủ không còn vào được nữa, đành phải đứng ở ngoài nhìn vô;nhìn ngôi nhà mà ngày nào bà và mấy đứa con đã cùng sống trong ngập tràn yêu thương, giờ lại vắng tanh hoang tàn lạnh lẽo, còn hai đứa con thì không biết đã lưu lạc phương nào, có thể lúc ấy tâm trạng bà dao động dữ dội lắm, và cũng có thể vì thương con mà bà rất muốn được sống lại để chăm sóc chúng, cho nên đó cũng là những duyên thuận lợi làm cho bà có thể hiện hồn. Còn tại sao hiện thân hình đầy máu me và đứa con đổ ruột? Có thể vì cái khát vọng muốn sống của bà đến lúc dâng lên thật cao đã làm cho bà nhớ đến cái chết tức tưởi của bà ngày trước, làm cho tất cả ký ức cận tử trở lại từ từ như một cuốn phim quay chậm, và nó đã trợ duyên cho bà hiện lại hình ảnh của mình cùng với đứa con lúc vừa bị giết để tiếc nuối giây phút cuối cùng bà còn sống trong đêm định mệnh ấy!
Theo tôi, người đàn bà và đứa nhỏ đó chính là hồn ma mẹ con bà Mọi. Có thể vì còn quyến luyến với ngôi nhà cũ và thương nhớ hai đứa con nên trở về thăm; song thực tế trớ trêu, ngôi nhà đã đổi chủ không còn vào được nữa, đành phải đứng ở ngoài nhìn vô;nhìn ngôi nhà mà ngày nào bà và mấy đứa con đã cùng sống trong ngập tràn yêu thương, giờ lại vắng tanh hoang tàn lạnh lẽo, còn hai đứa con thì không biết đã lưu lạc phương nào, có thể lúc ấy tâm trạng bà dao động dữ dội lắm, và cũng có thể vì thương con mà bà rất muốn được sống lại để chăm sóc chúng, cho nên đó cũng là những duyên thuận lợi làm cho bà có thể hiện hồn. Còn tại sao hiện thân hình đầy máu me và đứa con đổ ruột? Có thể vì cái khát vọng muốn sống của bà đến lúc dâng lên thật cao đã làm cho bà nhớ đến cái chết tức tưởi của bà ngày trước, làm cho tất cả ký ức cận tử trở lại từ từ như một cuốn phim quay chậm, và nó đã trợ duyên cho bà hiện lại hình ảnh của mình cùng với đứa con lúc vừa bị giết để tiếc nuối giây phút cuối cùng bà còn sống trong đêm định mệnh ấy!
Rồi từ đêm hôm ấy trở đi, nghe người ta nói,
bà Mọi lại hiện hồn trở về nhiều hơn. Khác với những lần trước bà chỉ về dưới
dạng cục lửa, hiện bóng người dắt con đứng hay ngồi khóc ở đầu hè, lần này bà
hiện về như là để thể hiện mình hơn như: khua đồ đạc loảng xoảng trong nhà,
khóc than kêu la thảm thiết, đứng dưới bụi bông giấy đầu hẻm chờ ai đi qua nhảy
ra chận đường làm cho cái xóm nghèo thêm một phen náo động!
Có một chuyện giữa đêm khuya đã làm kinh động
cả xóm nghèo. Chuyện là, một bữa có anh Xuân ở xóm dưới đi làm khuya,lúc ấy độ
chừng hai giờ rưỡi, khi đi gần tới chỗ bụi bông giấy, anh bỗng thấy thấp thoáng
dưới ánh trăng mờ: một bóng người đàn bà mặc đồ trắng lợp, đầu để tóc xõa đang
đứng cạnh bụi bông. Lúc này, hồn vía như lên mây lên mưa, anh bèn quay lại toan
co giò chạy trở về nhà. Nhưng chẳng may, mới vừa quay mặt, anh lại thấy bóng người
đàn bà đứng lừng lựng như lá triệu tự hồi nào, ngay chỗ khúc quẹo nhà bà Sáu
Lìn. Ôi, lúc ấy hồn anh như bất phụ thể, tay chân bủn rủn, đứng không muốn vững
nữa, song anh cũng cố gắng lấy chút bình tĩnh đứng chờ xem có ai đi qua để đi
theo. Quay mặt lại phía bụi bông giấy,thì thấy người đàn bà ấy lại đứng cạnh
bụi bông, dưới ánh trăng tà vàng vọt héo úa chiếu xuyên qua hàng cây dẹp bờ
ranh nhà bà Đội Tám tạo thành những vệt sáng tối lờ mờ in lên cái bóng người
trăng trắng quái dị ấy làm cho nó càng tăng thêm vẻ ma quái rùng rợn. Chờ một
lúc mà chẳng có ai đi qua, với lại thấy cái bóng cũng đứng yên ở bụi bông chẳng
tỏ ra có vẻ gì hù nhát anh cả, bất chợt anh bỗng nhớ lại lời bà nội dặn ngày
xưa: hễ thấy ma, niệm câu chú Án Ma Ni Bát Di Hồng, ma sẽ biến ngay không dám
hù nhát gì cả. Lời bà nội dặn dường như đã tiếp thêm cho anh phần nào can đảm!
Dù tay chân còn bủn rủn, song anh cố vươn vai hít một hơi dài để lấy thêm một
chút bình tỉnh, rồi bắt đầu bước. Anh vừa giở một chân này lên, anh vừa đọc to
một câu Án Ma Ni Bát Di Hồng, giở chân kia lên anh cũng niệm to như thế! Tới
lần thứ ba anh vừa mở miệng sửa đọc chữ Án thì bất giác người đàn bà kia nhảy
xồ tới đứng chần ngần trước mặt anh, cái mặt chầm vầm như cái mâm. Ối, trời ơi!
Chữ Án của anh thành chữ Á!!! lảnh lót từ xóm trên đến tận xóm dưới!!! Rồi
tiếng xoong nồi rơi lổn cổn.
Đang
ngủ, bà Chứng bỗng giật mình vì tiếng la thất thanh. Không biết xảy ra chuyện
gì, bà lật đật ngồi dậy, cầm cây đèn hột vịt đang thấp leo lét trên bàn thờ
chạy ra.Ôi, bà hoảng kinh hồn vía, tay chân run lập cập xuýt đánh rơi ngọn đèn
trên tay, bà la bài hãi, vì trước mắt bà là một cảnh tượng rất hãi hùng: một
cái xác nằm co quắp bất động, xung quanh nào là cơm nước, xoong nồi lổn nga lổn
ngổn!
Đang
đêm yên tĩnh nghe náo động cả một vùng bà con ai nấy cũng chạy ra. Phát hiện ra
cái xác là anh Xuân, còn thấy thở thoi thóp, bà con liền sơ cứu rồi đưa anh
Xuân về nhà.
(
Kể đến đây cũng xin mở ngoặc thêm, theo suy nghĩ của tôi: Sở dĩ anh Xuân niệm
chú mà còn bị ma nhát, không phải là thần chú không linh nghiệm, mà là do tâm
anh Xuân không thành, niệm chú mang tính đối phó. Anh nghe bà ngoại anh nói vậy
anh hay vậy, cho đến lúc hữu sự anh mới nhớ lại rồi áp dụng đối phó mà thôi,
chứ trước giờ anh có bao giờ trì niệm. Không có sự trì niệm thành tâm thường
xuyên, thì làm sao có sự cảm đến chư Phật, Bồ Tát được; không có “cảm” thì làm
sao có “ứng”! Việc niệm chú của anh Xuân lúc này chẳng khác nào bật một chiếc
Radio vừa yếu Pin vừa không đúng tần số thì không thể bắt được đài như mong
muốn được!)
* * * * *
Phần hai
( Đêm định mệnh)
Hôm
nay, ngồi nhìn ra trước sân, dậu mồng tơi mơn mởn đang bỏ ngọn phủ kín hàng là
kỷ vật duy nhất thằng Tèo còn lưu lại cho tôi. Chiều hôm ấy (mới đây mà đã ba
mươi mấy năm rồi) nó nhổ mấy cây mồng tơi đem qua nhà tôi. Nó trồng, tôi múc
nước tưới, hai đứa hì hục vui vẻ bên nhau suốt cả buổi chiều. Tôi, Nó nào có
biết đâu chiều hôm ấy là lần cuối hai đứa bên nhau, để rồi xa nhau mãi mãi!
Khuya hôm ấy, đang ngủ, bỗng má giật mình thức giấc vì nghe tiếng kêu lảnh lót giữa đêm thanh vắng: "Bớ làng xóm ơi, có ai tới cứu mẹ con tôi. Thằng Tửng nó giết con Mọi chết rồi!". Má tôi ngồi bật dậy, quay sang gọi ba tôi: "Ông ơi, dậy dậy, trời ơi, thằng Tửng nó giết con Mọi rồi!". Chừng ấy là quãng một giờ rưỡi, ba lật đật chạy qua, thấy đã có một số bà con xôn xao ngoài ngõ, chứ chưa thấy ai vào nhà. Nghe trong nhà vẫn còn tiếng rên la, ba-má tôi kéo cửa ngõ chạy vào, vài người hàng xóm cũng vào theo.
Khuya hôm ấy, đang ngủ, bỗng má giật mình thức giấc vì nghe tiếng kêu lảnh lót giữa đêm thanh vắng: "Bớ làng xóm ơi, có ai tới cứu mẹ con tôi. Thằng Tửng nó giết con Mọi chết rồi!". Má tôi ngồi bật dậy, quay sang gọi ba tôi: "Ông ơi, dậy dậy, trời ơi, thằng Tửng nó giết con Mọi rồi!". Chừng ấy là quãng một giờ rưỡi, ba lật đật chạy qua, thấy đã có một số bà con xôn xao ngoài ngõ, chứ chưa thấy ai vào nhà. Nghe trong nhà vẫn còn tiếng rên la, ba-má tôi kéo cửa ngõ chạy vào, vài người hàng xóm cũng vào theo.
Trời
ơi, dưới ánh đèn dầu leo lét, một cảnh tượng hãi hùng: Trên chiếc giường xốc
xếch, bà Mọi máu me lênh láng nằm yên bất động; con Tuất con Tân ôm nhau ngồi
co rúm, run cầm cập phía dưới chân. Bà Ba nằm lăn qua lăn lại trên vũng máu
dưới nền nhà bên cạnh chiếc lưỡi lê M16 dính đầy máu,vừa rên ư ử từng hồi, vừa
lầm bầm nguyền rủa thằng con rể! “Ôi, sao mà kinh khủng quá, tưởng là vợ chồng
đánh nhau tầm thường, chớ ngờ đâu mà đến nông nỗi”, một người hàng xóm thốt lên
như thế! Không có ông Tửng trong nhà, người ta cho biết, ông ấy đã ra đi với bộ
đồ lính trên người.
Ba
tôi chạy đi kêu xe đưa đi cấp cứu. Má tôi đến ngồi bên giường cạnh bà Mọi. Như
còn cảm giác được má tôi đang ngồi cạnh bên, bà Mọi từ từ há miệng, lấy chút
tàn hơi, thều thào: "Nhờ chị trông giùm mấy đứa con em!", xong nấc
nấc lên mấy tiếng, rồi thở ra một hơi dài, hai tay buông xuôi! Má tôi lặng
người nhìn người đàn bà xấu số mà cõi lòng đau đớn, nước mắt tuôn trào!
Một
lúc sau, xe lam ông Đích ở xóm ngoài tành tành chạy tới, mọi người xúm lại đưa
bà Ba và bà Mọi lên xe đi cấp cứu và má tôi phải theo xe, vì lúc ấy không có ai
thân thích.
Bấy giờ, ở nhà còn lại ba tôi và mấy người hàng xóm.Nhìn chị em
con Tân con Tuất
còn ngồi run ở góc giường,ba tôi trực nhớ thấy thiếu thằng Tèo.“ Ờ,còn thằng
Tèo nữa, nó đâu ta?”, ba tôi vừa tự hỏi, vừa nhìn quanh quất khắp nhà mà không
thấy nó. Ông hỏi mọi người xem có ai thấy nó không, song ai cũng lắc đầu bảo
rằng không thấy. Linh cảm có chuyện gì chẳng lành xảy ra với nó, ông cầm cây
đèn dầu soi các chỗ hốc, xó trong nhà. Soi tới chỗ hốc tủ, thấy nó đang ngồi co
rúm cúi gục trong đó. Như nghe thấy có tiếng người, nó cố ngước mặt lên với đôi
mắt lạc thần đầy vẻ sợ sệt. Ba tôi nắm tay đỡ nó đứng dậy, mà dường như hai
chân nó không đứng nổi nữa. Ba tôi bèn ẳm nó lên, qua ánh đèn dầu, thoáng thấy
mặt nó nhăn lại có vẻ như là bị đau đớn ở đâu đó. Đặt nó trên giường, ba tôi
kiểm tra toàn thân nó, xem nó có bị gì không. Vén áo nó lên; trời ơi, thật hãi
hùng. Trên bụng nó một cục đỏ lòm to như cái tô, soi đèn gần hơn, đó là đùm
ruột trong bụng nó lòi ra. Chiếc áo thun nó mặc nhuộm máu đỏ thẫm đã khô mà lúc
vừa thấy tưởng là mặc chiếc áo thun màu đỏ. Rồi nó cố mở to đôi mắt lạc thần
nhìn ba tôi, xong, ức ức vài tiếng, thở ra một hơi dài, từ từ khép hờ đôi mắt
lại, đầu nghoẹo về một phía, hai tay buông xuôi. Ba tôi lắc đầu thở dài nói: “Nó
chết vì ruột đã khô rồi. Âu cũng là số mạng. Nếu số nó chưa chết, thì hồi nãy
xui khiến phát hiện nó, kịp thời đưa đi nhà thương thì may ra còn cứu được.”. Mọi
người xung quanh ai cũng lắc đầu ngao ngán! Có người thở dài cất tiếng than
nghe ai oán: “ Thằng nhỏ nào có tội tình gì, mà phải giết nó chết thảm thương
như vầy nè trời. Hùm dữ còn không nỡ ăn thịt con mà! Tội nghiệp thằng nhỏ quá!”
Rồi cất tiếng khóc hu hu. Lặng nhìn thằng Tèo một hồi lâu, ba tôi nói về cách
sơ cứu nạn nhân bị lòi ruột: Thấy ai bị lòi ruột, thì kíp ngậm một ít giấm
thanh, bất thình lình phun mạnh vào mặt nạn nhân, khiến nạn nhân giật mình,
ruột sẽ thụt vào; nếu vào chưa hết, thì lấy cái tô lớn úp vào chỗ ruột lòi ra
rồi buột lại, kịp thời đưa nạn nhân đi bệnh viện, lấy tô úp lại là giữ ruột
không bị khô.
* * *
Độ
5 giờ sáng, chiếc xe lam chở xác bà Mọi về. Má tôi cho biết: Bà Ba bị một vết
thương chéo ngang hông dài chừng 25 phân, sâu lối 1 phân đến một phân rưỡi, bị
mất máu. Bà Mọi bị 6 nhát đâm khoảng 3 - 4 phân trong đó có một nhát trúng chỗ
hiểm và mất nhiều máu, không cứu được. Bệnh viện không cho chở xác về ngay mà
phải nhập nhà xác để chờ làm thủ tục.
Bác
sỹ cho biết bà Mọi đang mang thai. Má tôi nói, khi đưa bà Mọi vào nhà xác, còn
thấy, qua lớp áo, bụng, một khối gò lên gò xuống một lúc lâu mới yên.
Như
vậy vụ án mạng có một người bị thương, hai người và một thai nhi chết.
Chiều hôm đó bà con trong xóm tôi khiêng hai quan tài mẹ con bà Mọi đi chôn. Theo sau hai chiếc quan tài: một lớn, một nhỏ là hai đứa trẻ thơ độ bốn-năm tuổi, đầu đội khăn tang, buồn hiu nắm lấy tay nhau, đó là con Tuất và con Tân đưa tiễn mẹ và anh về nơi an nghỉ. Đám tang đi trong lặng lẽ không một tiếng trống, tiếng chiêng! Hai mẹ con người xấu số được nằm cạnh nhau; bên cạnh mộ bà mẹ được trồng một cây chuối sứ. Người ta nói khi nào cây chuối trổ bông là lúc người dưới mộ sinh con.
Chiều hôm đó bà con trong xóm tôi khiêng hai quan tài mẹ con bà Mọi đi chôn. Theo sau hai chiếc quan tài: một lớn, một nhỏ là hai đứa trẻ thơ độ bốn-năm tuổi, đầu đội khăn tang, buồn hiu nắm lấy tay nhau, đó là con Tuất và con Tân đưa tiễn mẹ và anh về nơi an nghỉ. Đám tang đi trong lặng lẽ không một tiếng trống, tiếng chiêng! Hai mẹ con người xấu số được nằm cạnh nhau; bên cạnh mộ bà mẹ được trồng một cây chuối sứ. Người ta nói khi nào cây chuối trổ bông là lúc người dưới mộ sinh con.
(
Ở đây cũng xin kể thêm: Kể từ cái hôm
chôn mẹ con bà Mọi về sau, người ta thường kể rằng, vào những lúc chạng vạng
của những chiều mưa phùn gió bất, nếu có dịp đi ngang qua nghĩa trang Cây Trôm
– làng Bảo An – thì thấy thấp thoáng bóng một người đàn bà ngồi bên mộ bà Mọi
đầu cúi trên đôi tay khoanh lại tựa trên hai đầu gối mà khóc rấm rức; và bóng
một đứa nhỏ như đang chạy nô đùa quanh người đàn bà ấy. Người ta cho rằng, bóng
người đàn bà và đứa nhỏ ấy là vong hồn hai mẹ con bà Mọi, vì chết tức tưởi quá,
vong hồn không siêu thoát còn vất vưởng nơi trần thế, thương hai đứa con dại
khờ còn ở lại thiếu bàn tay chăm nom của người mẹ, nên mới hiện hồn khóc thương
cho các con và cho số phận!)
* * *
Ở
toà án binh, hôm ấy Má tôi cũng được mời dự, ông Tửng khai toàn bộ sự việc dẫn
đến cái chết thê thảm của hai mẹ con bà Mọi. Có thể tóm lược như sau:
Chiều
hôm đó, từ đơn vị về, sau khi cơm nước xong, vợ chồng ông và ba đứa con cùng bà
Ba nghỉ ngơi một chút rồi đi ngủ. Bà Ba - mẹ vợ ngủ ở nhà dưới, còn hai vợ -
chồng ông và các con ngủ trên cái giường lớn ở nhà trên. Hai vợ chồng trò
chuyện một lúc, Bà Mọi đã kiếm chuyện ghen tương. Hai bên đã lời qua tiếng lại.
Đến lúc giận quá không kiềm chế được, ông đã tát bà Mọi một tát tai. Có lẽ đang
cơn ghen lại bị một cái tát tai nảy lửa, bà Mọi đã tức khí lấy chiếc lưỡi lê
M16 thường ngày để sẵn ở đầu giường cho lũ nhỏ ngủ khỏi giật mình đâm ông một
nhát. Lẹ tay, ông đã chụp được lưỡi dao, hai bên giành qua giật lại rầm rầm. Và
rồi giật được lưỡi dao, sẵn cơn tức vì hai bàn tay bị dao cắt đau đớn, ông quay
lại đâm mấy nhát thật mạnh vào bà Mọi. Mấy nhát đầu thấy bà còn chống chế, và
thêm sự có mặt của bà mẹ vợ la bài hãi, ông lại bồi thêm mấy nhát nữa cho đến
khi thấy bà Mọi nằm bất động mới thôi.
Nói
về bà Ba, ở nhà dưới nghe tiếng vật lộn, rên la ầm ỉ, bà cầm chiếc đèn dầu chạy
lên, thì thấy thằng con rể đang giơ dao đâm chí tử vào con gái mình, bà liền chạy
lại vừa ôm thằng con rể vừa kêu cứu. Đang cơn say máu, ông Tửng đã vung tay một
cái khiến bà Ba té ngã nhào xuống đất. Trong lúc vung tay, vô tình lưỡi dao oan
nghiệt đã trúng vào hông bà.
Còn
nói về lý do thằng tèo bị đâm, ông Tửng cho biết, ông không hề đâm thằng Tèo,
có lẽ lúc hai vợ chồng giằng co, lưỡi dao vô tình chạm phải. Nói rồi ông òa lên
khóc thảm thiết trước tòa.
(Tòa tuyên án
ông Tửng 20 năm tù giam, nhưng ông chỉ ở được một năm thì được thả vì giải
phóng.
Còn lý do thằng
Tèo chết có thể suy luận là: Nó bị thương trong lúc ba - má nó đâm lộn, do bị
đau quá nên nhân lúc hai người đang giằng co, nó lén ôm bụng bò xuống giường
rồi trốn ở hốc tủ, mặc dù bị thương đau lắm mà không dám rên, bởi sợ bị đâm
tiếp, để rồi không được người ta phát hiện kịp thời.)
* * *
* * *
Phần cuối
Kể từ ngày bà Ba bán nhà, đến lúc tôi thấy mẹ con bà Mọi hiện hồn trước cửa ngỏ nhà bà, cho đến về sau nữa, qua lời xì xào bàn tán bà con trong xóm, cho thấy bà Mọi hiện hồn càng lúc với tầng số dày hơn; chuyện này làm hoang mang xáo trộn không ít đến đời sống, tâm lý của bà con. Người ta lại kể, nửa đêm nghe tiếng khua đồ đạt trong nhà loãng xoãng, tiếng khóc than thảm thiết rùng rợn trong nhà phát ra…thật ớn lạnh. Lại còn có hôm người ta còn thấy phất phơ một dãi lụa trắng kéo dài từ đầu con hẻm chạy vào tới cửa ngõ nhà bà Ba.
Trong
thời gian này, nhất là phụ nữ và trẻ con, ai cũng dễ dàng nhận thấy vẻ hoang
mang lo sợ đều lộ rõ trên nét mặt. Vừa chập choạng tối, nhà nào nhà nấy đều cửa
đóng then cài, chẳng có ai dám ra đường, chẳng một tiếng chó sủa, chẳng ai dám
đi làm sớm, mọi hoạt động thường này dường như bị đình trệ, không khí làng xóm
chẳng khác nào thời giặc giã.
Nhận
thấy tình hình mỗi lúc càng xấu thêm, vài người lớn trong xóm bàn bạc với nhau,
đưa ra ý kiến, thỉnh thầy chùa về lập đàn cầu siêu cho vong hồn hai mẹ con bà
Mọi. Tuy nhiên, vấn đề khó khăn là tiền bạc và chính quyền địa phương. Mà nhất
là chính quyền địa phương, nghe nói tới chuyện tụng kinh gõ mõ thì họ sợ lắm,
mỗi khi có đơn xin phép về việc cúng tế, cầu siêu, cầu an ở đình chùa, ở tư gia
họ đều tìm cách thoái thoát, biện ra đủ lý do này nọ để từ chối hay đưa ra yêu
sách khó khăn này, khác.
Trở
lại việc tổ chức cầu siêu bà Mọi, hai vấn đề khó nói trên cũng được giải quyết.
Tiền bạc thì bà mẹ nuôi của con Tân ở xóm trên tài trợ. Chuyện xin phép chính
quyền và mời thầy chùa do má tôi đảm trách. Buổi lễ cầu siêu bạt độ được tổ
chức đơn sơ song không kém phần trang nghiêm. Và kể từ hôm ấy trở đi không còn
nghe ai bàn tán về chuyện bà Mọi hiện hồn nữa.
*********
(Lời giải thích thêm)
Trở
lại chuyện anh Xuân niệm chú mà ma không chịu biến đi mà còn quay lại nhát anh.
Tới đây có thể có một vài trong quý vị thắc mắc về chuyện này.
Theo tôi nghĩ, không phải Thần Chú không linh nghiệm, mà là anh ta đọc Chú trong lúc tâm quá tán loạn (do sợ quá) thì Chú không thể phát huy tác dụng được. Lại nữa, anh ta đọc là đọc như vậy thôi, chứ chưa thực sự tin hẳn vào oai lực của Thần Chú. Vả lại, trước giờ anh có trì tụng Chú bao giờ đâu, thì làm sao có sự cảm thông với chư Phật và Bồ tát; mà không có cảm làm sao có ứng! Mặt khác, lúc thấy ma, hồn vía anh lên mây lên mưa, đó cũng là điều kiện thuận lợi để con ma tác oai tác quái. Còn giả sử khi ấy anh mà bình tỉnh với tâm niệm: chỗ bà-bà đứng, đường tôi-tôi đi, thì có thể bóng ma đó biến mất, hoặc đứng yên chứ không nhảy ra hù nhát anh ta như thế. Trường hợp của tôi ở trên cũng vậy, lúc đó giá mà tôi không" hồn bất phụ thể"chắc mọi chuyện cũng khác rồi!
Theo tôi nghĩ, không phải Thần Chú không linh nghiệm, mà là anh ta đọc Chú trong lúc tâm quá tán loạn (do sợ quá) thì Chú không thể phát huy tác dụng được. Lại nữa, anh ta đọc là đọc như vậy thôi, chứ chưa thực sự tin hẳn vào oai lực của Thần Chú. Vả lại, trước giờ anh có trì tụng Chú bao giờ đâu, thì làm sao có sự cảm thông với chư Phật và Bồ tát; mà không có cảm làm sao có ứng! Mặt khác, lúc thấy ma, hồn vía anh lên mây lên mưa, đó cũng là điều kiện thuận lợi để con ma tác oai tác quái. Còn giả sử khi ấy anh mà bình tỉnh với tâm niệm: chỗ bà-bà đứng, đường tôi-tôi đi, thì có thể bóng ma đó biến mất, hoặc đứng yên chứ không nhảy ra hù nhát anh ta như thế. Trường hợp của tôi ở trên cũng vậy, lúc đó giá mà tôi không" hồn bất phụ thể"chắc mọi chuyện cũng khác rồi!
Đây
là suy luận chủ quan thô thiển của tôi. Nhưng có một điều tới bây giờ tôi còn
thắc mắc là "dải lụa trắng". Bà Mọi ra đi với một dải lụa trắng. Còn
vào trung tuần năm 2004, thằng Sáu Sụt ngã gục ngay gốc rào cũng ngay nhà bà
Mọi với một con dao Thái lan đâm lút tới cán, đứt động mạch cảnh, sau đó cũng
hiện về đứng trên cây sung với dải lụa trắng phất phơ, mà tôi và mấy người khác
thấy tận mắt. Chuyện "dải lụa" thằng Sáu Sụt thì tôi còn lý giải được
theo quan điểm chủ quan của mình. Còn chuyện bà Mọi với "dải lụa" thì
tôi cứ...thắc mắc hoài! Hồn ma có liên quan gì với "dải lụa"? Không
phải vô lý khi cầu hồn, các thầy có dùng đến dải lụa?! Khi có dịp tôi sẽ kể hầu
quý vị câu chuyện HỒN MA THẰNG SÁU SỤT; còn câu chuyện bà Mọi đến đây là hết.
Thân ái!