Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2013

TIN ĐỒN VỀ TRÁI BẦU MANG “BẦU” (PHÓNG SỰ CỦA THANH HIỆP)

Mấy hôm nay người ta xôn xao về chuyện trái bầu mang “Bầu” nhà anh Xà Lẹt ở thôn Phước Khánh-Xã Phước Thuận-Huyện Ninh Phước. Họ bàn tán với nhau rằng: Vào trận lụt tháng 11 năm 2010 vừa rồi, cả thôn Phước Khánh hầu như ngập trong biển nước mênh mông, mấy ngày sau cơn lũ rút đi, dưới lớp đất bồi nhà anh Trầu Xà Lẹt nảy lên một mầm bầu. Mầm bầu thật chóng lớn, chẳng bao lâu thành một dây bầu xanh mơn mởn phủ kín một khoảnh đất rộng và một hàng ranh.Thấy dây bầu tự nhiên không trồng mà mọc lên xanh tốt như thế, cả nhà ai cũng thấy vui, vì thấy rằng hiện ngoài chợ giá bầu lên đến chín-mười ngàn đồng một ký, mà dây bầu này mà ra hoa thì trái sai hết chỗ nói!

Thế rồi dây bầu cũng không phụ lòng mong mỏi của gia chủ, tới kỳ đủ sức ra hoa kết trái, trái sai lúc lĩu. Nhưng mà từ đó những hiện dị thường cũng xảy ra: Mới đầu, thỉnh thoảng, cứ cách một hai đêm, nghe có tiếng con gái khóc nỉ non đằng sau hè chỗ dây bầu. Lúc đầu gia đình cứ nghĩ tiếng khóc từ phim TV của mấy nhà rẫy gần bên. Rồi càng về sau thì hầu như đêm nào cũng nghe, mới biết không phải là tiếng khóc trong phim. Nghĩ chắc con cái nhà ai hư hỏng bị cha mẹ rày la rồi tìm chỗ ngồi khóc than, cả nhà bàn tính với nhau chờ rình xem, coi con cái nhà ai đặng lựa lời khuyên giải, phòng những sự đáng tiếc xảy ra. Và rồi cũng ngay tối hôm đó, vào độ hơi khuya khuya, tiếng khóc lại phát ra. Mọi người lần hồi bò ra rình xem: Từ đằng hơi xa xa, bóng một đứa con gái ngồi gục mặt chỗ hàng ranh gần dây bầu khóc thút thít. Nhưng khi tới gần thì không còn nghe thấy gì nữa!


Rồi bầu đến độ thu hoạch, gia chủ đã cho hái một số đem ra chợ bán. Ngay tối hôm ấy, gia chủ đã mơ thấy một thiếu phụ độ 17-18 tuổi mang bụng chửa độ gần sinh tới xin đừng hái hai quả bầu - một nằm, một đứng (theo dấu của thiếu phụ đã chỉ). Thiếu phụ cho biết, quả bầu đứng là dương đứng canh cho quả bầu nằm là âm sắp tới kỳ sinh rồi; nếu gia chủ hái quả bầu ấy đem bán thì chẳng khác nào mang tội giết hai mẹ con, nghiệp báo sẽ rất lớn. Nói rồi, thiếu phụ còn chỉ cách lót cho hai quả bầu được êm.
 
 

Sáng hôm sau gia chủ đã làm theo y như những gì người thiếu phụ dặn trong mơ: giăng mùng bên trên, lót lá bên dưới cho quả bầu đang “cấn thai” được êm. Rồi cũng thật là kỳ lạ, hai quả bầu đó bỗng to nhanh như thổi, mỗi ngày trông một khác hẳn, cho đến lúc to bằng cái giỏ cần xế, ai thấy cũng khiếp!

Cho đến cách đây mấy hôm, người thiếu phụ báo mộng cho gia chủ biết: quả bầu sắp tới ngày nở nhuỵ khai hoa. Nghe báo mộng như thế, gia chủ lấy làm lo lắng lắm, vì không biết phải “hộ sản”thế nào cho phải; rồi bầu “đẻ”ra “thứ” gì?!!!
 

*
 
* * 

Theo tôi được biết, sở dĩ người ta xôn xao bàn tán như thế không phải vì quan tâm về trái bầu to bằng cái giỏ cần xế. Vì chuyện trái bầu có to như thế thì cũng như chuyện buồng chuối dài 3 mét, chuyện cây dừa nhiều đọt mà thôi. Mấy chuyện đó nếu xảy ra vào ngày trước giải phóng (1975)thì hoạ ra còn là chuyện để mà bàn tán; còn ngày nay, dân trí cũng khá hơn, nên xem đó chỉ là chuyện bình thường, chuyện cây bị đột biến mà thôi. Còn chuyện ở đây, như đã nói, không phải hiếu kỳ vì trái bầu to, mà là tò mò về trái bầu “có chửa”. Người ta cho rằng, hột bầu trôi từ trên núi có thể đã hấp thụ linh khí của núi rừng, cho nên hai quả bầu kia, theo như lời thiếu phụ báo mộng, chắc chắn sẽ  sinh ra một vật kỳ lạ gì đó. Còn có ý kiến khác cho rằng, có thể hột bầu đó nằm ở bụi tre nọ - nơi mà một đứa con gái chửa hoang bị cha mẹ rày la đã ra uống thuốc độc tự tử - đã hấp thụ âm hồn hai mẹ con đứa con gái đó; cho nên bây giờ quả bầu sinh con cũng là đúng kỳ đứa con gái ấy sinh con. 


Tôi thực ra cũng chẳng quan tâm gì mấy đến ba cái chuyện đó. Không lẽ đó là chuyện Sọ Dừa; chuyện Nàng Út trong ống tre; hay chuyện cô gái con hai vợ chồng lão nông dân trồng dưa của thời hiện đại sao?! Nhưng bạn tôi ở xa cứ liên tục gọi về hỏi tôi về chuyện trái bầu ấy, và yêu cầu tôi phải đi thực tế để xem tận mắt, nghe tận tai để về kể lại cho họ. Cho nên tôi buộc lòng phải đi thực tế một chuyến xem sao!


Chiều hôm qua, tôi cùng một cụ nữa đi thực tế. Khi tới đầu con hẻm dẫn vô nhà có dây bầu, chúng tôi thấy người ta nườm nượp đi như trẩy hội, ai nấy cũng lộ vẻ tò mò trên gương mặt. Con hẻm chật ních người ra vô chen lấn nhau xô qua, đẩy lại.
 

Vào nhà, cũng chật ních người, thấy bà chủ nhà đang khẩn trương hướng dẫn người ta ra sau nhà chỗ dây bầu. Chúng tôi tháp tùng theo mấy người vừa vào trước đi ra sau nhà. Vừa đi tôi vừa hình dung trong đầu về hình thù trái bầu to bằng giỏ cần xế mà mình sắp sửa chứng kiến. Nhưng khi ra đến chỗ dây bầu, thì mọi hình dung của tôi đều tan biến cả, vì chẳng thấy quả bầu nào to bằng giỏ cần xế cả, ngoài hai quả bầu già: một đứng, một nằm hơi to hơn quả bầu bình thường,được chủ nhà cho biết, quả nằm 32 ký, quả đứng 27 ký, cả hai quả được lót cẩn thận có giăng lưới chống nắng (mà người ta cho là giăng mùng). Tôi có hỏi nhỏ một người bên cạnh, và được chị ta cho biết là chủ nhà đang chờ đợi quả bầu trở dạ sinh. Chụp xong vài tấm hình chứng minh là mình có tới hiện trường. Sửa ra về, tôi vô tình chợt thấy có một cô gái mang một bụng bầu (bụng chửa) thật to, có lẽ cũng gần tới kỳ sinh, lai vãng lối gần gần đó, không biết là người nhà hay người hàng xóm.
 

Ra về, tôi thấy thấm thấm mà cười một mình, không biết người ta đồn nhau đi xem quả bầu sắp sinh hay là đi xem cái bụng sắp đẻ kia; phải chăng quả bầu sắp "nở nhuỵ", hay là cái bụng bầu kia sắp "khai hoa"?!(Viết bởi THANH HOÀI)

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1024x768.

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1024x768.

Trái bầu nằm-âm

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1024x768.

(Trái bầu đứng-dương)

LỄ HOÀN TÁNG VUA LÊ DỤ TÔNG

(Dân trí) - Nghe tin sáng nay 25/1 thi hài vua Lê Dụ Tông sẽ về đến nơi, nhiều người dân tỉnh Thanh Hóa đã không ngủ, thức đợi để được tận mắt chứng kiến giây phút trọng đại này.
 
Về tham dự buổi lễ hoàn táng thi hài Hòa Hoàng đế Lê Dụ Tông có nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, Thứ trưởng Bộ VH - TT - DL Trần Chiến Thắng. Về phía tỉnh Thanh Hóa có Bí thư tỉnh ủy Nguyễn Văn Lợi, Chủ tịch UBND tỉnh Mai Văn Ninh và các ban ngành đoàn thể cùng đông đảo người dân và du khách thập phương.

Trước đó mọi công tác chuẩn bị đã gấp rút được hoàn thành, đến 23h ngày 24/1, chiếc quách đã gấp rút được hoàn thiện, những nghệ nhân đã cố gắng để tái tạo lại những hoa văn hình vân mây trên bề mặt của quách.
 
Cụ Hoàng Văn Hiền, làng Bái Trạch vui mừng nói: “Ngày đưa vua đi tôi được tận mắt chứng kiến cả quan, cả quách nên đã mấy ngày nay khi nghe tin thi hài vua được đưa trở về làng tôi hồi hộp và chờ đợi mong được chứng kiến ngày này".
 
Sáng nay mặc dù trời mưa phùn, nhưng dòng người đổ về khu vực lăng mộ vua ngày một đông, đã có hàng vạn người dân tập trung ngay trước khu lăng mộ chờ đón giây phút thi hài vua Lê Dụ Tông được đưa về. Suốt cả mấy hôm nay người dân làng Bái Trạch như ngừng mọi việc đồng áng, chợ búa… để đón đợi lễ hoàn táng đặc biệt này.

Anh Đỗ Văn Lực đang công tác từ tận Cần Thơ nhưng nghe tin thi hài vua Lê Dụ Tông được đưa về làng, anh cũng vội vàng thu xếp công việc để cũng như nhiều người dân trong làng, trong tỉnh được chứng kiến lễ thiêng liêng và trọng đại này.

Theo lịch trình thi hài vua được đưa về theo đường mòn Hồ Chí Minh. Tiếp đó đoàn xe dừng lại tại khu di tích Lam Kinh để yết cáo với tổ tiên rồi mới đưa thi hài vua về làng Bái Trạch. 
 
Sau 46 năm kể từ ngày thi hài vua Lê Dụ Tông được đưa về Bảo tàng lịch sử Việt Nam để bảo quản, đến giờ phút này người dân Thanh Hóa nói chung và người dân làng Bái Trạch nói riêng đã thỏa lòng mong ước được hương khói cho vua.

Đến 11h cùng ngày tất cả mọi nghi lễ đã được hoàn thành trọn vẹn.

Một số hình ảnh trong Lễ hoàn táng vua Lê Dụ Tông sáng 25/1:
 

Hàng ngàn người dân tập trung xem hoàn táng vua Lê Dụ Tông


Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước tham dự buổi lễ
 

Người dân chen chân thắp hương khấn vua

Quan tài vua Lê Dụ Tông đã đặt trước khu mộ


Quan tài vua được di chuyển vào phía trong


Rước thi hài vua vào mộ



Hạ quan tài vua xuống mộ


Bình hương bốc cháy khi buổi lễ kết thúc.

VUA LÊ DỤ TÔNG

Lê Dụ Tông (chữ Hán: 黎裕宗, 1679  1731) là vị Hoàng đế thứ 22 của nhà Hậu Lê, ở ngôi từ năm 1705 đến năm 1729(24 năm). Ông tên thật (húy) là Lê Duy Đường (黎維禟, 黎維禎) – là con trai trưởng của vua Lê Hy Tông.

Cuộc đời

Lê Dụ Tông được vua cha truyền ngôi vào tháng 4 năm Ất Dậu (1705) và lấy niên hiệu là Vĩnh Thịnh. Đến năm 1720, nhà vua đổi niên hiệu thành Bảo Thái.
Theo Lịch triều tạp kỷ thì ông Bấy giờ thừa hưởng cơ nghiệp thái bình, không xảy binh đao, trong nước vô sự, triều đình có làm được nhiều việc. Pháp độ được rất đầy đủ, kỷ cương thi hành được hết. Xứ xa lạ thì dâng lễ vật tỏ lòng thành, thượng quốc (Trung Quốc) thì trả lại đất. Có thể gọi là đường cực thịnh. Nhà vua rủ tay áo, ngồi ở trên, không phải khó nhọc mà mọi việc đâu ra đấy. Khi nói đến cuộc thịnh trị ở thời bấy giờ người ta tất phải kể đến đời vua này. [1]
Ngày 20 tháng 4 nǎm Kỷ Dậu (1729), ông bị An Đô Vương Trịnh Cương ép nhường ngôi cho Thái tử Lê Duy Phường(sau bị phế làm Hôn Đức Công) rồi ra ở cung Kiền Thọ, xưng là Thuận Thiên thừa vận Hoàng thượng.
Lê Dụ Tông qua đời vào tháng Giêng nǎm Tân Hợi (1731), hưởng thọ 52 tuổi.

Di hài

Theo Ngọc phả của họ Lê, sau khi qua đời, vua Lê Dụ Tông được táng tại Bố Vệ, Đông Sơn thành phố Thanh Hóa. Còn theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục thì vua Lê Dụ Tông được táng ở lăng Cổ Đô, Đông Sơn, Thanh Hóa, sau dời đi táng ở lăng Kim Thạch, huyện Lôi Dương (nay thuộc Thọ Xuân  Thường Xuân)

Phát hiện

Tháng 2 năm 1958, một nông dân ở làng Bái Trạch (Trang Bàn Thạch xưa), trong lúc đào vườn đã phát hiện một chiếc quách. Phá vỡ ra một mảng thì thấy bên trong có quan tài sơn son, thiếp vàng. Sau khi nhận được thông tin, các cơ quan chức năng đã về sử lý bằng cách dùng xi măng vá kín chỗ bị vỡ, sau đó giao cho chính quyền địa phương quản lý.

Khai quật

Từ khi phát hiện ngôi mộ, nhiều kẻ xấu thường xuyên dòm ngó, gây bất an cho chính quyền sở tại. Vì vậy, đầu năm 1964, được phép của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng (1906 - 2000) và Bộ Văn hóa, đội khảo cổ thuộc Vụ Bảo tồn-Bảo tàng, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Ty Văn hóa- Thông tin Thanh Hóa đã tổ chức khai quật mộ và mang chiếc quan tài nguyên vẹn làm bằng gỗ Ngọc Am (Pơ mu) về Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.
Ngày 2 tháng 4 năm 1964, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam phối hợp với các giáo sư, bác sĩ của Trường Đại học Y Hà Nội Viện Giải phẫu tổ chức mở nắp quan tài trước sự chứng kiến của thủ tướng Phạm Văn Đồng, lãnh đạo Bộ Văn hóa, Ủy ban khoa học nhà nước, Viện Sử học Việt Nam.

Cấu trúc

Quan tài có hai đáy, giữa có một lớp gạo rang dày 10cm, đáy trên lớp gạo rang có một tấm ván mỏng trổ 7 lỗ tròn theo hình Thất tinh. Sau tấm chăn bông vỏ gấm, thi hài được liệm bởi nhiều lớp quần áo, vải liệm, gồm: 8 lớp đại liệm bằng gấm thêu hoa bạc kích thước 1,5mx5m, buộc bằng 5 đai lụa; tấm tiểu liệm bằng gấm may kép 2 lần vải; áo Hoàng bào kim tuyến thêu một con rồng lớn phía trước, phía sau và tay áo thêu nhiều rồng nhỏ; 2 áo long bào thêu rồng kim tuyến; 3 bộ vóc vàng may kép đính vào nhau thành một bộ; 3 lớp lụa kép; 3 chiếc quần bằng lụa mỏng, khố bằng vải mỏng. Tay chân của thi hài được đi tất lụa, chân có giầy gấm thêu, lót một lớp da thuộc mỏng, trên đầu gối một chiếc gối bông, hai tai được nút bằng 2 viên bông bọc lụa, mặt phủ một tấm khăn bằng vải gấm có thêu rồng cùng một chữ Thọ ở giữa và 4 chữ Vạn của nhà Phật ở 4 góc.
Ngoài ra trong quan tài còn có sách, bút lông, túi đựng móng tay, răng rụng, quạt giấy, túi đựng cau trầu, một hộp hình quả cau bên trong đựng thứ bột màu trắng... Khi giở tấm khăn phủ mặt, các nhà khảo cổ hết sức ngỡ ngàng khi thấy da mặt của thi hài còn màu xám nhạt, sau vài phút thì ngả màu xám đều như toàn thân. Thi hài có teo nhưng chưa khô, tay chân thân thể vẫn còn mềm mại, các khớp có thể cử động được. Môi của thi hài bị teo để lộ một hàm răng đen đã rụng một vài chiếc, cằm có chòm râu đen đã điểm bạc...

Ý nghĩa

Từ những cứ liệu sử học, cùng với việc xác định các đồ tùy táng, thi hài, các nhà sử học đã khẳng định đây chính là thi hài của vua Lê Dụ Tông. Đây cũng là ngôi "mộ hợp chất" được đánh giá là to nhất, có tư liệu tốt nhất trong số những ngôi "mộ hợp chất" đã được phát hiện ở Việt Nam.
Đây là lần đầu tiên Bảo tàng Lịch sử Việt Nam có được những y phục của một đế vương thời Lê
Với táng thức đặc biệt, ngôi mộ này cùng với đồ tùy táng được bảo quản rất tốt . Những di vật này và bản thân di hài vua Lê Dụ Tông là tư liệu rất quý đối với nhiều ngành nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khảo cổ và nhân trắc học.

Hoàn táng

Từ năm 1964 đến nay, di hài vua Lê Dụ Tông được bảo quản trong kho có môi trường ổn định, phù hợp với điều kiện bảo quản hiện vật hữu cơ, nên vẫn được giữ ở tình trạng tốt.
Từ năm 1996, con cháu họ Lê đã có đề nghị Bộ Văn hóa-Thông tin cho phép đưa di hài nhà vua về hoàn táng tại Thanh Hóa. Nhưng vì nhiều lý do, tâm nguyện này chưa được thực hiện. Tháng 10 năm 2006, Hội đồng họ Lê tiếp tục có văn bản đề nghị với Bộ Văn hóa-Thông tin. Được sự nhất chí của Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ, di hài của vua Lê Dụ Tông được đưa về hoàn táng tại Thanh Hóa.
Đúng 1 giờ sáng ngày 25 tháng 1 năm 2010 (tức 11 tháng Chạp năm Kỷ Sửu), lễ nhập quan và tổ chức đưa di hài vua Lê Dụ Tông về hoàn táng tại làng Bái Trạch, xã Xuân Giang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Hội đồng họ Lê Việt Nam và các đơn vị liên quan thực hiện.
Qua nhiều trao đổi giữa Hội đồng họ Lê Việt Nam, UBND tỉnh Thanh Hóa, Bộ Văn hóa - Thông tin và Du lịch và sự góp ý của nhiều nhà khoa học, địa điểm hoàn táng được thực hiện tại đúng huyệt đạo đã đặt mộ vua ngày trước tại làng Bái Trạch.
Riêng quan tài và các vật tùy táng đã được liệm theo vua ngày xưa, do khi khai quật lên ngày trước đã có phần hư hỏng, tiếp súc với không khí trong vài chục năm không thể còn nguyên vẹn, nên dòng họ Lê thống nhất các hiện vật gốc sẽ được lưu giữ thành cổ vật tư liệu của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam về một vị hoàng đế.
Quan tài mới được làm bằng đúng gỗ Ngọc Am, theo đúng kích thước hoa văn cũ, nặng tới 700kg, 32 bộ áo được may mới theo đúng màu sắc, hoa văn cũ, tuy nhiên không giống được y nguyên như long bào của Vua ngày xưa (vì rất tốn kém).
Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa cùng Hội đồng họ Lê Việt Nam đã hoàn thành việc xây dựng con đường rải nhựa dài khoảng 600m dẫn từ đường chính vào khu hoàn táng. Toàn bộ khu khuôn viên hoàn táng rộng hơn 5000m2 và sẽ được quy hoạch thành khu lăng mộ Vua trong tương lai [2]
Hành trình đưa di hài vua Lê Dụ Tông về hoàn táng tại Thanh Hóa xuất phát từ Bảo tàng Lịch sử Việt Nam theo đường Láng-Hòa Lạc-đường Hồ Chí Minh vào Lam Kinh dừng lại mươi phút để làm lễ Yết cáo tổ tiên. Tại làng Bái Trạch, Ban tổ chức làm lễ hạ huyệt và lấp mộ. Lễ hoàn táng kết thúc vào 11giờ ngày 25 tháng 1 năm 2010



(Di hài của Vua)

(Áo Long bào)
(Nguồn tham khảo: Wikipedia

CÂU CHUYỆN CẢM ĐỘNG VỀ HAI CHÚ THẠCH SÙNG.

Câu chuyện nói lên lòng trắc ẩn không những có ở con người mà còn ở cả loài động vật, cả con nhỏ bé như thằn lằn (thạch sùng).  Nội dung của câu chuyện là một chứng thực của tình thương, có tác động đánh thức lương tâm con người đối với nhau cũng như đối với con vật, ngay cả loài côn trùng. Thiết nghĩ sự thật của cốt chuyện được bao nhiêu phần trăm cũng không có khía cạnh tiêu cực nào. Người ác tâm có thể dị nghị về sự thật của cốt chuyện, rốt cuộc chứng minh loài vật không có tri thức và tình cảm, rồi không nên... "động tâm" về mạng sống của nó (!)  Lá thư này được chọn đăng không phải vì những lời trong thiên linh chuỗi như trong câu "Hãy gửi câu chuyện này tới mỗi người bạn bạn đã từng tiếp xúc  trong cuộc đời này, trong 96 tiếng đồng hồ bạn  nhất định phải gửi đi nhé!" hoặc răn đe nếu không thì sẽ bị đại nạn... Tòa soạn đã bỏ bớt những câu thuộc về "thiên linh chuỗi" làm giảm bớt giá trị luân lý của lá thư và trân trọng kính mời bạn đọc. (SH)

*******************************

Đừng bao giờ từ bỏ những người bạn bạn đã yêu thương!
Ở Nhật xảy ra một câu chuyện có thực 100% như thế này: Có một người vì muốn sửa lại nhà nên dỡ tường ra; tường nhà kiểu kiến trúc Nhật thường đế một tấm gỗ ở giữa, hai bên trát xi măng, nhưng thực chất bên trong để rỗng.
Khi anh ta dỡ tường ra, phát hiện có một chú thạch sùng đang ngủ ở trong đó, đuôi nó bị đóng vào tường bởi một chiếc đinh được đóng từ ngoài vào trong. Anh này thấy tình cảnh đó vừa thấy thương thạch sùng vừa thấy tò mò, anh ta chăm chú quan sát chiếc đinh, trời ạ! đây là chiếc đinh được đóng khi xây nhà 10 năm trước.
Rút cục là có chuyện gì thế này nhỉ? Chú thạch sùng này đã mặc kẹt trên tường mà vẫn sống được trọn 10 năm! Sống được 10 năm trong bức tường tối, thật không đơn giản chút nào. Có gì đó bất thường thì phải? Anh ta tiếp tục tục nghĩ ngợi, đuôi nó bị đóng chặt, không thể xê dịch được, thế nó đã sống được nhờ vào điều gì mười năm qua? Anh ta quyết định chưa sửa công trình của mình vội, muốn quan sát xem chú thạch sùng này đã ăn gì? Anh muốn nghiên cứ tìm hiểu xem sao.
Một lát sau, không biết từ đầu bò ra một chú thạch sùng khác, miệng nó ngoặm miếng
thức ăn… ồ! Anh ta lặng người đi. Thế này là sao nhỉ?
Vì một bạn thạch sùng bị đinh đóng vào đuôi không thể đi lại được, một bạn thạch sùng khác đã kiếm tìm thức ăn mớm cho bạn trong suốt mười năm qua. Tôi nghe xong thấy xúc động vô cùng và thực sự cũng không nghĩ thêm về mối quan hệ của chúng nữa.
Các bạn ạ, cùng với sự phổ cập của máy tính trong xã hội con người, tốc độ những
thông tin mà chúng ta có được từ người thân, bạn hữu, đồng nghiệp, … ngày một nhanh hơn, nhưng khoảng cách giữa con người với con người chúng ta với nhau phải chăng cũng ngày một gần nhau hơn ? … Cho nên đừng bao giờ từ bỏ những người mà chúng ta
yêu thương nhé!
...

Ven. Thich Nguyen Tang
Quang Duc Buddhist Monastery
105 Lynch Road
Fawkner, VIC 3060. Australia
Tel: 61. 412 794 254
Email: tvquangduc@bigpond.com

KHÓA TU MÙA HÈ - CHỦ ĐỀ XIN LỖI CHÍNH MÌNH


Thứ Ba, 14 tháng 5, 2013

PHẬT GIÁO CÓ HẠI CHO VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ?

PHẬT GIÁO CÓ HẠI CHO VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ?

Category: , Tag:
03/26/2010 04:02 pm
Đất nước hiện nay cần phải phát triển kinh tế để dân giàu nước mạnh. Muốn vậy, người dân Việt phải tăng gia sản xuất tất cả các ngành nghề, cần phải cạnh tranh trong tất cả các lãnh vực kinh tế. Chăn nuôi gia súc, nuôi cá, nuôi tôm là các ngành không thể thiếu để cung ứng thị trường nội địa và xuất khẩu để thu ngoại tệ.
Nhưng phần lớn dân Việt Nam lại theo đạo Phật. Phật khuyên con người nên giữ giới không sát sanh và không tham lam trộm cắp thì làm thế nào để phát triển kinh tế? Vì nuôi gia súc nuôi cá, nuôi tôm mà không làm thịt để đóng thành hộp – xuất khẩu. Không tham lam làm sao cạnh tranh với thị trường? Do đó có thể nói giáo lý Phật trở thành vô dụng trong lãnh vực kinh tế, hay nói cách khác, đạo Phật là tảng đá cản đường cho việc canh tân đất nước.
Trên đây là lời phát biểu nửa thật nửa đùa của tôi lúc gặp 40 tăng ni sinh của trường Cơ Bản Phật Học về ở lại tối thứ Bảy tại Chùa Phúc Viên Biên Hòa để chuẩn bị ngày giỗ tổ Liễu Quán, tuần cuối tháng 12, 2000.
Bị "tấn công" bất ngờ , tôi đọc được phần nào sự lúng túng trên khuôn mặt trẻ trung của một số tăng ni sinh hiện diện. Mỗi người hầu như đều có câu trả lời cho những lời chỉ trích thẳng thừng của tôi, nhưng không ai dám nói ra, ngoại trừ một sư chú bận y phục tiểu thừa muốn chứng minh lời phê bình của tôi là sai nhưng sư vẫn còn thiếu nhiều lý lẽ do tuổi đạo và tuổi đời chỉ quá độ trăng tròn.
Sự chỉ trích đầy tính động não và bất ngờ làm cho không khí trong phòng trai soạn có vẻ nặng nề, ít ai nói chuyện với ai. Tôi cũng từ giả phòng nầy đi bộ ra trước sân chùa, mặc cho ai có thể bàn tán hoặc suy tư những lời "đả kích" Phật Giáo như thế.
Chưa chịu bỏ cuộc, một sư chú khác, tuổi dưới 20 theo tôi ra ngồi trên cái ghế đá cạnh hòn long bộ và yêu cầu tôi giải tỏa thắc mắc điều tôi mới phê bình ban nảy. Tôi trịnh trọng thưa rằng: "Đó là công việc của bậc trưởng tử Như Lai, còn hàng cư sĩ chúng tôi xin y giáo phụng hành. Đâu dám múa rìu qua mắt thợ". Sau vài lời trao đổi thân tình, tôi bắt buộc phải đóng vai thí sinh, và việc trả lời được tóm lược như sau:
Về giới không sát sanh.
Nếu ôn lại hai cuộc Thế Giới Chiến Tranh, chúng ta có biết được bao nhiêu chục triệu người chết? Cuộc chiến tại Việt Nam trước đây cũng có trên ba triệu sinh linh ra đi không có ngày trở lại. Và hiện nay những cuộc chiến tranh tôn giáo, giữa Tin Lành và Công Giáo vẫn còn tiếp diễn tại Ái Nhĩ Lan, giữa Hồi Giáo và Công Giáo tại Indonesia. Nội chiến còn âm ỉ tại Tích Lan, Colombia, Nam Tư ... Nếu tất cả nhân lọai, hoặc ít nhất là thủ lảnh các đại cường, nguyên thủ các quốc gia, cấp lãnh đạo các tôn giáo Tây phương đều giữ giới không sát sanh như Phật đã khuyên thì chiến trranh đã không thể xảy ra, và hàng trăm triệu người đã không bị chết một cách vô lý. Đó là chưa nói đến các hệ quả đau thương do chiến tranh để lại.
Đức Phật không những khuyến khích đừng sát sanh, mà còn khuyên nên tôn trọng mạng sống của tất cả vạn loại hữu tình và vô tình như cây cối, môi trường thiên nhiên, rừng núi, ao hồ, sông biển... Trong cuộc chiến Việt Nam, Hoa Kỳ thả thuốc khai quang trên vùng rừng núi. Hậu quả của thuốc khai quang, có chất độc Da Cam trong đó, đã làm cho nhiều người Việt bệnh ung thư, nhiều trẻ em sinh ra bị khuyết tật. Thảm cảnh nầy còn kéo dài nhiều thế hệ cho cả con người lẫn động vật và cây cối vì chất độc Da Cam (Orange Agent) đã thấm vào lòng đất .
Nạn phá rừng, nạn hóa chất bị thải vào không khí, vào đất, vào nước từ các nhà máy kỹ nghệ, làm môi trường thiên nhiên bị tàn phá bị ô nhiễm. Vì thế, khí hậu xung quanh quả địa cầu đã nóng thêm 10 độ F. Hậu quả của nạn phá rừng và bầu khí quyển nóng thêm đã tạo ra những nạn lụt lớn khắp thế giới trong năm qua. Nhiều ngàn người chết, cây màu, hoa quả bị tàn phá thiệt hại hàng ngàn triệu USD.
Do đó, mục đích của đức Phật khuyên không nên sát sinh và tôn trọng sự sống của vạn vật chủ yếu là nhắm vào các vấn đề mà tôi vừa mô tả, nhắm vào việc ngăn ngừa chiến tranh, tôn trọng mạng sống của con người. Và các hành động này thuộc về "trọng giới". Còn như nuôi gia súc, nuôi cá, nuôi tôm để sản xuất đồ hộp là thuộc về "khinh giới" (ít quan trọng hơn). Phật khuyên con người nên giữ cả trọng lẫn khinh giới. Hoặc ít nhất là giữ trọng giới trước, sau đó sẽ giữ thêm khinh giới lúc hoàn cảnh cho phép. Ngoài ra, con người có thể xử dụng khoa học kỹ thuật để chế biến các thảo mộc thành những món ăn giống thịt cá, bổ dưỡng và ngon hơn thịt cá nữa là khác, thì việc nuôi gia súc, cá, tôm có lẽ không còn quá cần thiết.
Thật vậy, ngày nay các bác sĩ tại các quốc gia tân tiến thường khuyên con người nên ăn nhiều rau cải trái cây thay thế thịt cá để tránh bệnh tật. Tại Hoa Kỳ, nhiều năm qua, bác sĩ Dean Ornish đã chữa cho những người mắc bệnh tim trầm trọng bằng ba phương pháp: Ăn chay, tập thể dục và ngồi thiền. Kết quả đạt được 85%. Nhiều hãng bảo hiểm sức khỏe như Blue Cross, Blue Shield, Mutual of Omaha... tài trợ mỗi bệnh nhân 3.500 USD để chữa trị theo phương pháp này. Xem thế, giới không sát sanh sẽ tạo cho thế giới hòa bình, muôn dân an lạc, kinh tế phát triển, dân giàu nước mạnh, người người hạnh phúc.
Tôi "trả bài" đến đây, thầy "chủ khảo" có vẻ đắc ý lắm, và muốn tôi trình bày về giới Không Tham Lam Trộm Cắp trong tương quan về việc phát triển kinh tế.
Giữ giới không tham lam trộm cắp không những đã không có hại cho việc phát triển kinh tế, mà còn làm cho dân giàu nước mạnh. Tham có mấy loại chính: tham tài, tham sắc, và tham quyền.
Ôn lại vài nét lịch sử thế giới, chúng ta thấy rõ. Các phong trào chiếm thuộc địa trong thế kỹ 19 chủ yếu là phát xuất từ lòng tham của các quốc gia tư bản. Họ xử dụng sức mạnh khí giới và kỷ thuật khoa học để xâm chiếm các quốc gia yếu kém hơn, nhằm thu về các món lợi quí giá như: tơ tằm, đồng chì, gỗ qúi, vàng bạc. Thêm vào đó, các nước thuộc địa có các nguồn lợi béo bổ khác như nhân công rẻ, thị trường tốt, tài nguyên phong phú mà các con buôn tư bản sẽ làm giàu nhanh chóng trên xương máu của người dân bị trị. Dân trong các quốc gia thuộc địa cũng không chịu kiếp sống nô lệ đọa đày bởi ngoại bang. Các phong trào giải thực đã rầm rộ nỗi lên cùng khắp. Những cuộc kháng chiến và đàn áp kháng chiến đã làm cho nhiều vùng đất bị tắm máu, triệu triệu con người thiệt mạng, nhà cửa bị đốt cháy, ruộng vừơn bỏ hoang, nhân công chết, nhà máy sản xuất bị tàn phá. Đứng về phương diện kinh tế thì đó là một thảm họa!
Ngày nay, nhiều quốc gia đang nội chiến vì tham lam tranh giành quyền lực, tranh giành tín đồ tranh giành đủ thứ. Nhiều kẻ cuồng tín trong quá khứ toa rập với các phong trào chiếm thuộc điạ để cưỡng bách dân chúng trong các quốc gia bị trị cải đạo. Họ nghĩ như vậy là làm đẹp ý Chúa (God) và được lên thiên đàng lúc chết. Tham cái bánh vẽ thiên đàng cũng đã cướp đi hàng trăm triệu mạng sống của con người. Nhiều cuộc chiến tranh tôn giáo đang xảy ra cũng phát xuất từ lòng tham mang tính tôn giáo.
Nước Việt ngày nay lâm vào tình trạng nguy hiểm. Tham nhũng đã trở thành quốc nạn. Vì lòng tham, con người muốn làm giàu nhanh, giàu lớn mà không muốn đỗ mồ hôi. Ngân khố quốc gia sẽ không bao giờ thỏa mãn con người tham nhũng. Hậu quả của vấn đề nầy sẽ tùy thuộc vào mức độ và địa vị mỗi người mà họ có thể bị tù chung thân hay bị án tử hình. Các viên chức cao cấp, nếu vào đường tham nhũng, họ có thể thanh trừng lẫn nhau vì quyền lợi. Hậu quả của nó là nước nhà có thể bị nội chiến. Ngoại quốc sẽ bỏ tiền mua chuộc cán bộ cao cấp nhằm lũng đoạn guồng máy chính trị để trục lợi.
Nếu con người giữ giới không tham lam, không trộm cắp như Phật dạy thì nạn tham nhũng sẽ hết, ngân quỹ thặng dư, xã hội văn minh tiến bộ, không bị ngoại quốc khinh rẻ chê cười.
Tham sắc là một yếu tố khác của tham lam như vừa được trình bày. Tham sắc nên có người thấy vợ người khác đẹp hơn vợ mình, thấy chồng bạn bảnh trai và dễ thương hơn chồng mình. Kết quả là gia đình tan nát, hạnh phúc đỗ vỡ. Thời gian chiến tranh trước 1975 có câu nói nữa đùa nữa thật:
"Trai thời loạn năm thê bảy thiếp,
Gái dung nhan có đến mười chồng".
Tình yêu như thế chẳng khác nào "cái chai và cái nút chai". Nhiều vua chúa ngày xưa tham sắc đến nỗi người ta ví sắc đẹp của người đàn bà có sức mạnh không phải làm nghiêng nước đỗ thùng, mà "Nghiêng Nước Đỗ Thành".
Nhiều triều đại sau khi vua chết, các hoàng tử tranh nhau ngai vàng dẫn đến cảnh anh em chém giết nhau. Ngày nay, các quốc gia tân tiến và có nhiều dân chủ tự do, nhưng đến mùa bầu cử các ứng cử viên thóa mạ lẫn nhau để tranh phiếu cử tri. Trông thật tồi tệ và bỉ ổi. Ngay tại Mỹ, kỳ bầu cử tổng thống cuối năm vừa qua, cảnh gian lận phiếu giữa hai đảng Dân Chủ và Cọng Hòa cũng làm cho chúng ta cần chú ý đến tư cách và tác phong con người trong một xã hội tự cao về dân chủ. Nhờ có dân chủ hơn, nên họ chỉ mới vác luật ra tòa để tranh chức, chứ chưa phải vác súng thanh toán nhau để tranh quyền.
Nói gọn, vì không giữ giới Tham Lam, Trộm Cắp, thế giới đã tạo ra biết bao cuộc chiến đẫm máu, quốc gia loạn lạc, xã hội điêu linh, gia đình tan rả. Hệ quả của nó dĩ nhiên là không riêng gì đời sống kinh tế, mà các lãnh vực khác như chính trị, xã hội... cũng đều bị khủng hoảng. Còn như Cạnh Tranh Chính Đáng để sản xuất, để kiếm thị trường v.v.. thì không thuộc về Tham Lam Trộm Cắp mà thuật ngữ Phật Giáo gọi đó là Tinh Tấn, tức là tấn tới, vươn lên trong sự trong sạch chính đáng.
Hy vọng lời chỉ trích có tính động não của tôi và sự góp ý để trả lời cho vấn nạn ấy, sẽ góp một phần nhỏ cho những ai chưa thấy rõ cách áp dụng thực tiễn lời Phật dạy vào sự sống cho chính mình và cho cả quốc gia và nhân loại. Đến đây, bảng đánh báo hiệu giờ dùng điểm tâm của tăng chúng trong chùa. Thầy trò chúng tôi chia tay nhau trong niềm vui tương kính. 
BÙI KHA-SACHHIEM.NET

BÍ ẨN:CON NGƯỜI KHÔNG NÃO VẪN SỐNG.

BÍ ẨN:CON NGƯỜI KHÔNG NÃO VẪN SỐNG.

Category: THẾ GIỚI BÍ ẨN-CHUYỆN LẠ-CHUYỆN MA, Tag: Linh tinh khác
01/11/2011 08:50 pm
Bí ẩn cơ thể người: Không có não nhưng vẫn sống
03.11.2010 14:29
Ông chủ Lloyd và gà Mike, tay ông chủ đang cầm đầu gà
Phải chăng tư duy của con người đến từ linh hồn, còn bộ não chỉ là một cái máy xử lý thông tin từ đó chuyển tới mà thôi? Có lẽ đã đến lúc chúng ta phải xem lại toàn bộ hiểu biết về bản chất và lịch sử của sự sống và nhân loại.
Trong lịch sử y học thế giới đã từng ghi lại hàng trăm trường hợp sống với cái sọ rỗng theo đúng nghĩa đen, tức là không có não bên trong. Những người này không có não hoặc bộ não đã bị hủy hoại hoàn toàn. Thế nhưng họ vẫn sống và làm việc như những người bình thường.
Bí ẩn cơ thể người: Không có não nhưng vẫn sống - Tin180.com (Ảnh 1)
Hình : minh họa Internet
Mới đây, tạp chí y học Lancet của Pháp đã đăng một bài báo nói về một trường hợp kỳ lạ: Bác sĩ Lionel Feullet ở bệnh viện Timone (Marseille) vô cùng kinh ngạc khi phát hiện một người đàn ông 44 tuổi, đang sống bình thường như những người khác nhưng có một bộ não teo nhỏ đến mức gần như là không có.
Người đàn ông đã có vợ và 2 con này nhập viện vì ông cảm thấy chân trái bị yếu. Sau khi chụp cắt lớp (CTscan) và hình ảnh cộng hưởng từ (MRI), bác sĩ thấy não thất của ông nở rộng, trong khi não (tức chất xám và chất trắng) thì lại chẳng thấy đâu.
Thực tế bệnh nhân này đã bị tràn dịch não từ khi mới 6 tháng tuổi. Như vậy, có thể trong một thời gian rất dài người đàn ông này đã sống với cái đầu rỗng. Bác sĩ Feuillet nói: “Sự thiếu não bộ đã không hề cản trở sự phát triển của ông ta”.
Điều gây sự chú ý là những trường hợp kỳ lạ giống như vậy không phải quá hiếm. Năm 1935, trong khi điều trị cho một sinh viên khoa toán Trường đại học Sheffield, Anh hay bị ốm vặt. Khi chụp CAT – scan, giáo sư Lorber phát hiện thấy người thanh niên này hoàn toàn không có não.
Lẽ ra 2 bán cầu não phải lấp đầy hộp sọ với độ sâu 4 – 5cm, nhưng sinh viên này chỉ có 1mm mô não phủ trên đỉnh cột sống. Chẳng ai hiểu bằng cách nào mà anh ta vẫn sống bình thường và còn có chỉ số IQ tới 126, học rất giỏi, từng đạt học vị danh dự ngành toán học. Năm 1970, người thanh niên này mới qua đời. Khi mổ tử thi, một lần nữa các bác sĩ đã vô cùng ngạc nhiên khi thấy ông ta không hề có não.
Giáo sư Lorber cho biết ông đã gặp không ít trường hợp người không có bán cầu não mà vẫn rất thông minh và giỏi giang. Ở một số người tuy não bộ gần như không có nhưng chỉ số IQ của họ vẫn đạt tới 120.
Một điều kỳ lạ nữa là có những người bị tổn thương não nghiêm trọng nhưng vẫn sống. Theo tài liệu lưu trữ y học, vào năm 1936 vua Ludwig của xứ Bavaria ra lệnh xử tử Dietze von Schaumburg cùng 4 đồng phạm vì âm mưu nổi loạn.
Theo phong cách hiệp sĩ, vua cho Dietze nói ra một điều ước cuối cùng. Trước sự ngạc nhiên của những người chứng kiến, Dietze yêu cầu toàn bộ tử tù xếp thành hàng, mỗi người cách nhau 8 bước và xin được chết đầu tiên. Dietze khẳng định dù không còn đầu ông vẫn có thể chạy qua mặt những người tử tù kia và nếu làm được như thế thì nhà vua hãy tha mạng cho những người còn lại.
Nhà vua nghe xong liền đồng ý. Dietze quỳ xuống và đưa đầu vào máy chém. Đúng như lời nói, sau khi đầu rơi xuống, Dietze vẫn đứng dậy và chạy trước sự sững sờ của mọi người. Dietze chỉ gục ngã khi chạy qua người cuối cùng trong hàng. Nhà vua buộc phải thực hiện lời hứa và tha chết cho những người còn lại.
Tạp chí Y học New York, Mỹ vào năm 1888 cũng đã miêu tả một sự việc kỳ lạ xảy ra với một thủy thủ lái tàu trên sông. Người thuỷ thủ này trèo lên cột buồm để buộc lại dây chằng và sơ ý không nhận thấy rằng tàu sắp lướt qua gầm cầu. Thanh gầm cầu sắc đã cắt đứt 5 – 6cm phần đầu trên của người thuỷ thủ. Anh ta được đưa vào bệnh viện cấp cứu.
Điều kỳ diệu là trong khi các bác sĩ đã hết hi vọng cứu chữa thì bỗng nhiên anh chàng thủy thủ này mở mắt ra và hỏi chuyện gì đang xảy ra với mình. Sau đó, anh ta còn rời bàn mổ và đòi quay về tàu để làm việc. Vô cùng kinh ngạc, các bác sĩ đã quyết định ghép lại phần sọ bị đứt cho anh ta dù bộ não đã bị tổn thương nghiêm trọng.
Sau 2 tháng điều trị, anh chàng thủy thủ đã bình phục hoàn toàn và trở lại tàu làm việc bình thường. Dường như cái đầu đã mất gần hết não không hề ảnh hưởng đến công việc của anh. Thỉnh thoảng, anh vẫn hoàn toàn khỏe mạnh, chỉ cảm thấy hơi choáng váng. Mãi đến 26 năm sau ngày bị tai nạn đó anh ta mới bị liệt tay và chân trái.
Vậy tại sao lại có một số người không có não hay bị tổn thương não nghiêm trọng mà vẫn sống như người bình thường trong một thời gian dài? Liệu có phải cơ thể họ đã được điều khiển bằng hệ thống nào khác mà chúng ta chưa biết?
Phải chăng tư duy của con người đến từ linh hồn, còn bộ não chỉ là một chiếc máy xử lý thông tin từ đó chuyển tới mà thôi? Nếu như vậy, chúng ta có thể giải thích được rất nhiều câu hỏi hóc búa hiện nay như: hiện tượng hồn ma, hiện tượng đầu thai, hiện tượng sống bên ngoài thân xác, hiện tượng người không não vẫn sống, hiện tượng ngoại cảm, cảm xạ, nhập vong, tìm mộ liệt sỹ, Phan Thị Bích Hằng, thế giới bên kia, vv… bỗng đều trở nên sáng tỏ và dễ hiểu…
Có lẽ đã đến lúc chúng ta phải xem lại toàn bộ hiểu biết về bản chất của sự sống và lịch sử của loài người.

Chú gà Mike (sinh tháng 4 năm 1945 – chết tháng 3 năm 1947), còn được gọi là “Mike kỳ diệu”, là một con gà giống Wyandotte, đã sống được 18 tháng sau khi đầu nó bị cắt lìa khỏi cổ. Nghe nhiều người cho đó là chuyện xạo, ông chủ của Mike bèn đưa nó tới trường Đại học Utah ở thành phố Salt Lake, Hoa Kỳ để chứng thực là chuyện này hoàn toàn có thật.

Câu chuyện tưởng như hoang đường nhưng hoàn toàn có thật này đã xảy ra cách đây hơn sáu chục năm, tại một trang trại ở Fruita thung lũng Colorado, Mỹ.
Biết mẹ vợ rất thích ăn món cổ gà, chàng rể Lloyd đã ướm đường dao chính xác hơn hẳn ngày thường, dự định chỉ một nhát là đủ kết liễu cuộc đời gà ta. Gà giật bắn mình và còn kịp la toáng lên một tiếng thất thanh trước khi đầu lìa khỏi cổ. Lạ lùng thay, không hiểu sức lực phi thường nào đã khiến nó vùng vẫy ra khỏi “pháp trường”, chạy một mạch với chiếc cổ ngắc ngư không đầu.
Và thế là Mike (cũng không hiểu từ lúc nào người ta bắt đầu gọi nó bằng cái tên ấy) thoát khỏi chuyến “lên đĩa” kinh hoàng. Nó lại trở về với công việc của một con gà trống: cái cần cổ lúc gật gù như đang mổ thóc, lúc ngoáy ngó sang hai bên như muốn rỉa lông…, chỉ duy nhất một điều không ai lý giải nổi: nó vẫn sống mà không cần đầu.
Sáng hôm sau, bà chủ Clara Olsen phát hiện ra Mike đứng ngủ ngon lành với cái đầu – nói đúng hơn là cái cổ dài ngoẵng – dúi dụi vào trong lớp cánh. Nếu nó đã có niềm ham sống mãnh liệt đến vậy, Clara quyết định, cứ để cho số phận của nó an bài trong tay chúa Trời.
Bí ẩn sự sống: Không có não nhưng vẫn sống (Phần 2) - Tin180.com (Ảnh 2)

Gà Mike cùng đàn gà trong vườn
Vì không còn mỏ để mổ thóc nên mỗi ngày, người ta dùng ống xịt để đưa nước và gạo nghiền nát vào cổ họng Mike. Sau một tuần như vậy, ông chủ Olsen quyết định đưa cậu chàng vượt qua 250 dặm đường đất để tới trường ĐH Utah ở thành phố Salt Lake. Ở đây, các nhà khoa học hàng đầu đã giúp anh tìm ra câu trả lời thỏa đáng về nghị lực sống phi thường đến kỳ lạ của con vật nặng chưa đầy 2kg.
Trong 18 tháng sống trong ánh hào quang của sự nổi tiếng, Mike – “Gà không đầu kỳ diệu” – vẫn tiếp tục phát triển cơ bắp và cân nặng, từ hơn 1 kg đến 4 kg.
Sau đó gà Mike còn “thuê” hẳn quản lý riêng, cùng với ông chủ Olsens đi “lưu diễn” vòng quanh nước Mỹ. Dân tình chẳng ai tiếc 25 xu lẻ chỉ để chiêm ngưỡng con gà không đầu có một không hai. Cũng thời điểm ấy, gà Mike được định giá 10 ngàn USD và được mua bảo hiểm với số tiền tương đương, thậm chí còn vinh dự bước lên trang bìa tạp chí Life and Time.
Một đêm nghỉ tại khách sạn ven đường giữa sa mạc Arizona, Mike bắt đầu lên cơn co giật. Người ta không thể tìm đâu ra dụng cụ chuyên làm sạch thực quản và đành nuối tiếc nhìn con vật qua đời.
Mike đã trở thành một huyền thoại, và là biểu tượng của thành phố Fruita, tỉnh Mesa, bang Colorado, Hoa Kỳ. Để biết thêm chi tiết mời bạn vào www.miketheheadlesschicken.org, là trang web được người dân lập lên để vinh danh cho “con gà kỳ diệu” này.
Bí ẩn sự sống: Không có não nhưng vẫn sống (Phần 2) - Tin180.com (Ảnh 3)

Cho đến ngày nay, người dân thị trấn Fruita bang Colorado vẫn làm lễ tưởng nhớ linh hồn gà Mike, vào dịp cuối tuần thứ 3 của tháng 5 hàng năm.Không đầu nhưng vẫn sống, điều đó có nghĩa là gì? Có lẽ con người hoàn toàn chưa hiểu được nhiều về sự sống…
Minh Trí 
(tổng hợp)
(Theo tin180)

TÌM VỀ KINH ĐÔ BỊ CHÔN VÙI HƠN 4000 NĂM TRƯỚC

TÌM VỀ KINH ĐÔ BỊ CHÔN VÙI HƠN 4000 NĂM TRƯỚC

Category: LỊCH SỬ, Tag: Tin tức Dư luận,Văn hóa Xã hội
02/07/2011 10:10 am
Các nhà nghiên cứu khẳng định đây là con rùa đá to nhất mà họ từng thấy. Con rùa nặng khoảng 6-7 tấn, cõng tấm bia và nằm ở khu mả của vua Mạc.

Trong quá trình tìm hiểu về đại long đao 500 tuổi của hoàng đế Mạc Đăng Dung, tôi thấy có nhiều điều thú vị còn ẩn chứa ở nơi từng là cung điện nguy nga một thời. Khu tưởng niệm Vương triều Mạc giữa cánh đồng xã Ngũ Đoan dù khá hoành tráng, song không thể nào sánh với quy mô một kinh thành, một đô thị ven biển ngày xưa.

Quảng trường trước chính điện của Khu tưởng niệm Vương Triều Mạc. 

Vương triều sụp đổ

Sau khi bị nhà Lê – Trịnh phá hủy, đốt cháy, Dương Kinh tiếp tục bị thời gian 400 năm mài mòn. Phần lớn những dấu tích đã lặn xuống lòng đất, nhưng vẫn còn một số di vật ẩn giấu đâu đó trong chùa chiền, đình miếu. Trong những ngày lang thang ở kinh thành lộng lẫy khi xưa, tôi được chiêm ngưỡng một số cổ vật cực kỳ giá trị liên quan đến Vương triều Mạc.

Theo sử sách, sau khi lên ngôi được 2 năm, Mạc Đăng Dung đã nhường ngôi cho con cả là Mạc Đăng Doanh để làm Thái Thượng Hoàng, lui về quê xây dựng Dương Kinh với quy mô đồ sộ. Vậy nên, thời kỳ đó, ngoài kinh đô ở Thăng Long, còn có một “kinh đô” khác là Dương Kinh. 

Cánh đồng này từng là Dương Kinh đô hội bậc nhất thời Mạc. 

Tại Dương Kinh, có hệ thống cung điện, lầu các có quy mô đồ sộ như: các Dương Tự, điện Tường Quang, Phúc Huy, phủ Quốc Hưng, đồn binh, kho lương, và cả một trường Quốc học tương đương với Quốc Tử Giám tại Thăng Long. Cứ 3 năm một lần, Mạc Đăng Dung lại tổ chức thi tuyển tìm tiến sĩ, trạng nguyên, bổ sung nhân tài cho đất nước.

Khác với cung điện Tức Mặc (Nam Định) thời Trần, hay Lam Kinh (Thanh Hóa) thời Lê Sơ, chỉ là nơi nghỉ ngơi, thờ tự của vua chúa, Dương Kinh là trung tâm kinh tế, chính trị và là “kinh đô cảng” vô cùng sầm uất. Với vị thế gần biển, sông Văn Úc, với nhiều ngả nối liền phố Hiến, Thăng Long, Hội An, nên Dương Kinh nhanh chóng trở thành khu đô hội bậc nhất.

Điều này đã được chép lại trong sử sách và đã được chứng thực bằng hàng loạt cuộc khai quật khảo cổ kéo dài nhiều năm. Năm 2004, Viện Khảo Cổ học đã khai quật một số địa điểm ở thôn Cổ Trai (Ngũ Đoan, Kiến Thụy, Hải Phòng), nơi được coi là Dương Kinh thời xưa và đã có nhiều phát hiện thú vị. 


Các cuộc khai quật đã khẳng định tại xã Ngũ Đoan từng có một đô thị rực rỡ. 


Các nhà khảo cổ đã khiến các thành lũy, hào nước gần 500 tuổi xuất lộ, thu được nhiều gốm sứ màu lam, đồ sành, đồ đá, đất nung với những nét hoa văn mang phong cách nghệ thuật điển hình của thế kỷ XVI. Thời kỳ nhà Mạc trị vì, gốm Chu Đậu phát triển rực rỡ nhất, nên việc phát hiện nhiều gốm ở di chỉ là điều dễ hiểu.

Cuối năm 2008, các nhà khảo cổ của Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tiếp tục tiến hành khai quật 450m2 đất ở thôn Cổ Trai và đã lần đầu tiên tìm thấy dấu tích nền móng và gia cố trụ của cung điện Dương Kinh. Hàng loạt thanh đá khổng lồ được phát hiện dưới lòng đất, là vật liệu xây dựng các công trình lớn. Những hiện vật như gạch vồ, đồ gốm trang trí phượng, rồng, sóng nước, hoa cúc… được phát hiện rất nhiều. Ngoài ra, các nhà khảo cổ còn thu được cả tạ tiền cổ được chôn trong những chiếc hũ sành ở di chỉ Gò Gạo - vốn là một kho quân lương thuộc kinh đô cũ của nhà Mạc.


Đại hồng chung nặng hơn 1,5 tấn trong Khu tưởng niệm Vương triều Mạc. 

Từ những vết tích được khai quật, có thể chắc chắn rằng, trung tâm Dương Kinh khi xưa gồm một quần thể kiến trúc rộng lớn, trải dài trên một diện tích rộng hàng vạn mét vuông. Các kiến trúc đều rất to lớn và trang trí đẹp.

Vậy là, ngoài những bức tường thành kỳ vĩ của nhà Mạc vẫn còn tồn tại ở Lạng Sơn, Tuyên Quang, Cao Bằng, các nhà khoa học đã chính thức khẳng định sự tồn tại của một kinh đô hoành tráng thế kỷ 16. Giờ đây, tất cả đã bị bao phủ bởi làng mạc và đồng lúa trải mênh mông.

Bia đá, rùa đá khổng lồ

Những ngày lang thang ở vùng đất từng là kinh đô nhà mạc xưa, tôi gặp không ít chuyện thú vị. Cụ Mạc Văn Thiết là người trông coi từ đường họ Mạc ở xóm Kiều Thôn, nằm ngay cạnh làng Cổ Trai, quê hương của Mạc Đăng Dung. Cụ Thiết mở cho tôi xem gia phả để khẳng định cụ là cháu 17 đời của hoàng đế Mạc Đăng Dung.
Nhưng điều khiến tôi đặc biệt chú ý là những cổ vật bằng đá xanh, đá trắng khổng lồ có niên đại thời Mạc chất đầy mảnh vườn trước cửa từ đường. Toàn bộ số cổ vật này đều liên quan đến Vương triều Mạc ở Dương Kinh xưa.

Tôi khá bất ngờ khi tận mắt con rùa đá xanh rất lớn. Theo ông Thiết, các nhà nghiên cứu cũng khẳng định đây là con rùa đá to nhất mà họ từng thấy. Con rùa này nặng khoảng 6-7 tấn, vốn cõng tấm bia và nằm ở khu mả của vua Mạc. Khi chúa Trịnh Tùng truy sát, không rõ khu mộ được chuyển đi hay san phẳng để ngụy trang. Riêng con rùa và bia đá nặng quá, lớn quá, không thể khiêng đi được thì cứ để vậy.

Chiếc thống đá là "bồn tắm" của vua chúa, mỹ nữ thời Mạc. 

Trải bao mưa nắng mấy trăm năm, mồ mả không còn, kinh thành chìm dưới lòng đất, song con rùa và tấm bia đá vẫn trơ trơ cùng tuế nguyệt. Tiếc rằng, không rõ do con người phá hoại, hay trúng bom, mà tấm bia đá trên lưng rùa bị vỡ làm 2 mảnh. Hiện tấm bia vẫn được lưu giữ ở từ đường họ Mạc xóm Kiều Thôn.

Chiếc thống đá cũng là di vật khá đặc biệt của nhà Mạc còn tồn tại đến ngày hôm nay. Đây là vật dụng có chức năng như chiếc bồn tắm thời hiện đại để bậc vương tôn, mỹ nữ ngồi tắm… Tương truyền, khi bịt lỗ thoát nước ở dưới đáy, thả xuống nước, chiếc thống đá này nổi được. Ông Thiết đã thử ngồi vào thống đá, thấy không rộng rãi lắm, song vẫn tắm được bình thường.

Trong số cổ vật vứt ngổn ngang trong vườn trước từ đường họ Mạc, tôi đặc biệt chú ý tấm bia đá rất lớn, còn cực kỳ nguyên vẹn. Theo lời ông Thiết, tấm bia này được phát hiện vào năm 2000, khi nhân dân trong xã đào mương. Nó nằm dưới lòng đất chừng 1m, ở khu vực Gò Gạo, vốn là nơi đặt kho quân lương của nhà Mạc.

Rùa đá xanh khổng lồ, nặng khoảng 6-7 tấn. 

Ngày đó, đích thân ông Đào An, Chủ tịch UBND TP Hải Phòng đã duyệt kinh phí, huy động dân quân, người dân kéo bia đá lên. Cả trăm lực điền kéo đủ kiểu, mà bia đá không hề nhúc nhích. Không có cách nào kéo được tấm bia, họ đành lấp đất lại.

Năm 2002, từ đường họ Mạc ở xóm Kiều Thôn được công nhận Di tích lịch sử cấp Quốc gia, ông Chủ tịch huyện Kiến Thụy Phạm Văn Đới lại cấp tiền để trục bia đá lên. Lần này có cả máy tời, máy cẩu.

Vì bia đá nằm giữa cánh đồng, không có đường ra, nên chỉ có thể sử dụng được máy tời. Thế nhưng, có một chuyện lạ đã xảy ra: Cáp bằng thép, to bằng ngón chân cái mà liên tục đứt. 

Tấm bia đá khổng lồ mới đào được ở Gò Gạo, nơi từng là kho quân lương thời Mạc. 

Một vị thầy cúng được mời về, cúng khấn khá lâu trong từ đường, song cáp vẫn đứt, bia đá không suy suyển. Đến cuối ngày, đích thân ông Đới vào ngôi miếu Bà Chúa Thao gần nơi xuất lộ bia đá khấn vái. Không ngờ, sau khi ông Đới khấn xong, máy tờ kéo bia đá lên thẳng. Bia đá được kéo ra đường lớn, rồi máy cẩu trục lên xe tải chở về.

Sau khi đem bia đá về, rất nhiều nhà khoa học ở Viện Hán Nôm đã về in dập bản. Cho đến giờ, ông Thiết vẫn chưa nhận được bản dịch. Tuy nhiên, qua một số chữ còn rõ nét, các nhà khoa học đã khẳng định với ông Thiết rằng, tấm bia này ghi chuyện quân lương. Như vậy, nội dung bia phù hợp với việc đào được tấm bia ở nơi từng là kho dự trữ quân lương của nhà Mạc.

Thái Tổ Mạc Đăng Dung đã lựa chọn một phương thức đấu tranh tổng hợp rất thông minh, vừa làm cho địch đủ ngại ngần, lo sợ, vừa đủ cho Thiên triều hống hách đỡ mất mặt. Ông lại đặt quyền lợi tối cao của đất nước lên trên sỹ diện cá nhân. Nhờ vậy mà đẩy lùi được 22 vạn quân Minh, mà không tốn một mũi tên, không mất một giọt máu.

Có thể nói, Mạc Đăng Dung là một vị vua yêu nước lớn trong những vị vua yêu nước. Nhà Mạc đã đấu tranh vô cùng thông minh, năng động, hiếm có trong lịch sử nước nhà.
------------------------------------------------------------------------------------------------------ 
(VTC News) - Trong số những di vật thời Mạc lưu giữ trong chùa, có lẽ nổi tiếng nhất phải kể đến chiếc khánh đá, bởi nó liên quan đến một vụ trộm kỳ lạ.

Cách từ đường họ Mạc xóm Kiều Thôn vài trăm mét, là ngôi chùa Phúc Linh của làng Nhân Trai, thuộc xã Đại Hà (Kiến Thụy, Hải Phòng). Ngôi chùa nhỏ, nằm giữa cánh đồng này còn lưu giữ vô số cổ vật liên quan đến Vương triều Mạc.

Ngôi chùa khá khiêm tốn trên một gò đất, cổ kính, cũ kỹ, song lại có cái cổng khổng lồ, cao bằng ngôi nhà 2 tầng, trông rất không phù hợp. Người trông giữ ngôi chùa cổ từ thời Trần này là cụ Bùi Hữu Tấc.


Rồng đá trông như đám mây là đặc trưng thời Mạc. 

Ngay từ cổng chùa đã thấy những hiện vật liên quan đến triều Mạc. Cổng chùa đặt 4 linh vật là rồng đá, chạm trổ rất tinh tế, trong đó có 2 con rồng thời Trần và 2 con rồng thời Mạc. Rồng thời Mạc rất đặc trưng, cách điệu như một đám mây, nên gọi là “vân hóa rồng”.

Trong khuôn viên chùa, có hai rùa đá cõng bia có tuổi 500 năm. Hai rồng đá thời Mạc vốn nằm chỏng chơ ngoài vườn vừa được khiêng vào sân chùa đặt chồng lên nhau.

Trong một tháp mộ vẫn còn pho tượng gỗ (đoán là từ thời Mạc) bị thủng lỗ chỗ ở bụng. Theo ông Tấc, những vết thủng ở pho tượng là do một quan Pháp bắn. Ông Tây này say rượu mò vào chùa, thấy tượng ngồi trong tháp mộ cứ trợn mắt nhìn, tức mình, ông ta xả nguyên một băng đạn.


Pho tượng trong tháp mộ bị quan Pháp bắn thủng bụng, cổ. 

Nhiều bức tường của ngôi chùa này được xây bằng gạch vồ, to bản, là gạch đặc trưng của thời Mạc. Hàng ngói lợp ở mái sau của ngôi chùa cũng có độ dày đặc biệt, chưa từng thấy xuất hiện ở nơi khác. Đây cũng được coi là loại ngói đặc trưng của nhà Mạc.

Đáng chú ý nhất là những pho tượng tròn – tượng đặc trưng thời Mạc, có rất nhiều ở trong chùa Phúc Linh. Những pho tượng gỗ được sơn thếp cẩn thận, trong đó, có một pho được cho là hiện thân của Thái hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Toàn, vợ hoàng đế Mạc Đăng Dung. Những pho tượng này được làm bằng chất liệu gỗ lim nên rất bền. Mặc dù những pho tượng đã “ngồi” đó hơn 400 năm, song vẫn chưa hề bị mối mọt xâm hại.


Tượng Thái hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Toàn (vợ Hoàng đế Mạc Đăng Dung). 

Ngay cạnh chính điện là những pho tượng đá xanh đặc biệt nhất. Những pho tượng này đã bị người đời sau quét sơn xanh đỏ lòe loẹt. Hai hàng tả hữu là quan lại, người hầu đứng uy nghiêm. Pho tượng ngồi trên ngai trạm trổ rồng là vua Mạc Đăng Dung.

Theo ông Tấc, những pho tượng đá xanh đã có mặt ở đây từ thời Mạc. Tượng vua Mạc vốn ngồi trên một bệ tượng bằng khối đá khổng lồ, nặng cả chục tấn. Tuy nhiên, do quá trình bồi lấp, người đời sau lại không đủ điều kiện kỹ thuật nâng khối đá lên, nên khối đá đã chìm sâu dưới lòng đất. Người đời sau cứ xây gạch chồng lên khối đá để nâng tượng, nên bệ tượng bằng đá và bức tượng vốn dính liền mỗi ngày càng thêm rời xa nhau.

Tượng tròn tạc bằng đá xanh - tượng đặc trưng thời Mạc. Những pho tượng này được cho là tạc vua Mạc Đăng Dung và các vị quan. 

Vua Mạc Đăng Dung ngồi trên ghế tạc hình rồng. 

Qua quan sát, có thể nhận thấy những pho tượng này được chạm khắc từ đá xanh, loại đá phổ biến ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An. Những pho tượng đều rất đẹp, còn nguyên vẹn và trông giản dị như người thật. Ông Bùi Hữu Tấc bảo: “Mấy bố GS bụng to như cái trống tìm về chùa mấy lần để nghiên cứu và đều khẳng định những pho tượng này có niên đại từ thời Mạc, mang đặc trưng điêu khắc của thế kỷ 16”.

Trong số những di vật thời Mạc lưu giữ trong chùa, có lẽ nổi tiếng nhất phải kể đến chiếc khánh đá, bởi nó liên quan đến một vụ trộm kỳ lạ.

Cách đây 20 năm, sau khi các nhà khoa học đạp xe về nghiên cứu và khẳng định trong chùa lưu giữ toàn cổ vật quý thời Mạc, thì bắt đầu xuất hiện trộm đến nhòm ngó. Tuy nhiên, chúng chỉ ăn cắp được những thứ lặt vặt, còn những cổ vật bằng đá, toàn nặng cả tấn, thì không thể bê nổi. Những pho tượng gỗ quý, đặc biệt là tượng Thái hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Toàn, dễ bị mất trộm, được cất giữ trong nhà kho, khóa kỹ.


Loại ngói dày rất đặc biệt. 

Trong số cổ vật thời Mạc, có chiếc khánh đá là nhẹ nhất, nên đã bị trộm nẫng. Nhìn chiếc khánh đá ước chừng nó nặng 70-80kg. Chiếc khánh đá còn rất mới, chữ nho rất nét, ghi niên đại chạm khắc thời Mạc.

Cuối năm 1992, ông Tấc bị đánh thức lúc nửa đêm về sáng bởi tiếng lạch cạch. Ông thức dậy, thấy cửa chùa mở toang. Kiểm kê đồ vật, thấy chiếc khánh đá đặt cạnh chính điện bị mất. Ông gõ chuông ầm ĩ, song trời rét mướt, chẳng thấy ai dậy.

Ông Tấc cầm đèn pin và chiếc gậy chạy dọc cánh đồng, thì phát hiện 4 tên trộm đang loay hoay khiêng chiếc khánh đá. Khi ông đến gần, 4 thằng nhìn ông chằm chằm, chả lộ chút vẻ sợ hãi nào. Ông cũng chả dám tiến đến chỗ chúng, vì có thể mất mạng như chơi. Ông cứ đứng từ xa rồi hết khuyên răn đến chửi rủa lũ phá đình, phá chùa, rằng “lũ ăn trộm của Thánh thì trước sau cũng bị Thánh vật”.

Chiếc khánh đá suýt bị mất trộm. 

Nhưng điều lạ xảy ra: 4 thằng loay hoay mãi mà không nhấc nổi chiếc khánh đá. Chiếc khánh đá cứ nằm trơ trơ trên bờ ruộng. Loay hoay một lúc không bê lên được, một thằng bảo: “Khéo Thánh vật thật”, thế là chúng để lại chiếc khánh đá bỏ đi.

Ông Tấc bốc những cục đất ải lấp chiếc khánh đá lại để ngụy trang rồi về chùa ngủ. Sớm hôm sau, ông huy động thanh niên ra đồng khiêng về. Lạ thay, chỉ cần 2 người khiêng chiếc khánh đá chạy phăm phăm. Để chống trộm, ông Tấc đã dùng dây xích to tướng treo chiếc khánh đá lên, rồi khóa xích lại.

Rùa đá cõng bia trong chùa Phúc Linh. 

Những ngày lang thang ở các đền chùa, đình miếu quanh xã Ngũ Đoan và các xã lân cận của vùng từng là Vương triều Dương Kinh khi xưa, tôi được tận mắt rất nhiều di vật từ thời Mạc có độ tuổi 400 đến 500 năm. Đây là những di vật cực kỳ quý giá, tuy nhiên, những di vật này đang bị đối xử không công bằng. Phần lớn các di vật nằm dầm mưa dãi nắng ngoài vườn, ngoài sân hoặc không được cất giữ cẩn thận, có thể bị bọn trộm khiêng đi bất cứ lúc nào.

Hy vọng, khu trưng bày cổ vật thời Mạc nhanh chóng được xây dựng ở Dự án Khu tưởng niệm Vương triều Mạc tại xã Ngũ Đoan, để đưa những cổ vật này về trưng bày, vừa để tôn vinh thời thịnh trị của 5 đời vua Mạc vừa để nhân dân được chiêm ngưỡng những cổ vật quý.


Do thời gian làm vua rất ngắn, không để lại nhiều dấu ấn gì ngoài một số việc như: cho đúc tiền Thông Bảo, truy tôn Mạc Đĩnh Chi là Kiến Thủy Khâm Ninh Văn Hoàng Đế, xây cung điện ở Cổ Trai, lấy Hải Dương làm Dương Kinh, tổ chức thi tuyển chọn người có tài (thi Hội năm 1529), sửa định binh chế, điền chế, lộc chế và đặt các vệ phủ, các vệ sở trong ngoài, các ty sở thuộc, hiệu ty, tên quan và số lại viên, số người, số lính của các nha môn… Tuy nhiên, vẫn phỏng theo quan chế triều trước với bổ sung không đáng kể nên người ta biết đến ông phần nhiều như là một người tiếm ngôi, mặc dù trong giai đoạn từ đời Lê Uy Mục đến đời Lê Cung Hoàng thì nhà Hậu Lê đã cực kỳ suy tàn, khởi nghĩa và nổi loạn nổi lên ở nhiều nơi, triều chính thối nát dẫn đến việc các ông vua này phải dựa vào thế lực ngày càng tăng của Mạc Đăng Dung nhằm duy trì quyền lực đã gần như không còn của mình và cuối cùng là việc phải nhường ngôi cho ông.
  (Nguồn tgvh.net)

Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2013

CHÙM ẢNH CHUYẾN HÀNH HƯƠNG VẠN PHẬT ĐẠI TÒNG LÂM


Trước Sân Chánh Điện (Nhấn vào ảnh để xem ảnh khổ lớn)

Bên hông Chánh Điện

Tháp Tam Bảo

Tượng Tam Thế Phật bằng đá hoa cương phía trước là hồ tịnh tâm. Không khí nơi đây thật mát mẻ, dễ chịu.


 tượng đức Di Lặc Bồ Tát

Tòa Chánh Điện nhìn từ xa



Bên trong Chánh Điện

Đức Phật dưới cội bồ đề
Tượng đức Phật A Di Đà đứng giữa, hai bên tả hữu là 2 hàng 48 tượng




Các tượng la hán

Tượng Đức Quán Thế Âm

Tháp Tam Bảo nhìn từ xa
Trước cổng tháp 

Tháp ( Tu viện Bát Nhã)

Một góc chùa Vĩnh Nghiêm

Bên trong chánh điện chùa Vĩnh Nghiêm